Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 28-02-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊNTHÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Sự
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Sóng
Ông Trần Đình Điệu

Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Thuỷ - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng mở phiên toà xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Hồ Việt H, sinh năm 1988 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn F, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là tổ dân phố F, phường D, thành phố T, Hải Phòng); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; con ông: Hồ Việt H1 (đã chết); con bà: Đỗ Thị N, sinh năm 1970; có vợ: Phạm Thị M, sinh năm 1990 (đã ly hôn); có 02 con (sinh năm 2011, 2020); tiền án, tiền sự: không. Bị tạm giữ từ ngày 17/9/2024 đến ngày 26/9/2024 chuyển tạm giam. Có mặt
  2. Vũ Đức H2, sinh năm: 1985; giới tính: nam; nơi sinh: thành phố Hải Phòng; nơi thường trú: Thôn D, xã T, huyện T, Hải Phòng; nơi ở hiện tại: Thôn Đ, xã L, huyện T, Hải Phòng (nay là tổ dân phố Đ, phường H, thành phố T, Hải Phòng); quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; con ông: Vũ Đức H3 (đã chết); con bà: Trần Thị T: có vợ tên: Vũ Thị H4, sinh năm 1992; có 03 con (sinh năm 2013, 2015, 2020); tiền án, tiền sự: không.

Bị tạm giữ từ ngày 17/9/2024 đến ngày 26/9/2024 chuyển tạm giam. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 45 phút ngày 17/9/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma tuý Công an huyện T (nay là Công an thành phố T) kết hợp với Công an xã T (nay là Công an phường D, thành phố T) làm nhiệm vụ tại khu vực thôn F xã T, huyện T, Hải Phòng (nay là phường D, thành phố T, Hải Phòng) đã phát hiện bắt quả tang Hồ Việt H và Vũ Đức H2 đang có hành vi bán trái phép chất ma tuý cho Đồng Xuân G, sinh năm 1990, nơi cư trú: thôn L, xã H, huyện T, Hải Phòng (nay là phường H, thành phố T, Hải Phòng) tại phòng trọ của H. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của G đang mặc 01 túi nilon (kích thước 02x1,5cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma tuý); tạm giữ 01 điện thoại nhãn hiệu Huawei màu đen gắn sim số 0979710880 của H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen gắn sim số 0386346286 của H2, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo gắn sim số 0867138590 của G. Tổ công tác đã đưa các đối tượng cùng vật chứng về trụ sở Công an làm việc.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực liên quan của Hồ Việt H, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 túi nilon (kích thước 2,5x2,5cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma tuý) trong ngăn tủ nhựa trên cùng trong phòng ngủ của H; 01 túi nilon (kích thước 2,5x2,5cm) bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là chất ma tuý) tại nền nhà sát đầu giường ngủ của H; 01 bộ đồ sử dụng ma tuý đá tự chế, 01 ống hút nhựa màu trắng (dài 06cm, một đầu hàn kín, một đầu vát nhọn), 20 vỏ túi nilon (kích thước 2,5x2,5cm), 01 đèn lửa khò tại nền nhà của H.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở và khu vực liên quan của Vũ Đức H2: không phát hiện thu giữ được tài liệu đồ vật gì có liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 1081/KL-KTHS ngày 23/9/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:

  • Tinh thể màu trắng có trong 01 túi nilon thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của Đồng Xuân G là ma tuý, có khối lượng 0,03 gam, loại Methamphetamine;
  • Tinh thể màu trắng có trong 01 túi nilon thu giữ trong ngăn tủ nhựa trong phòng ngủ của H là ma tuý, có khối lượng 0,24 gam, loại Methamphetamine.
  • Tinh thể màu trắng có trong 01 túi nilon thu giữ tại nền nhà sát đầu giường ngủ của H là ma tuý, có khối lượng 0,17 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, Hồ Việt H và Vũ Đức H2 đều khai: H và H2 có quan hệ bạn bè xã hội, đều nghiện ma túy đá. H thuê phòng trọ của anh Trần Văn M1, sinh năm 1970, trú tại thôn G, xã T, huyện T (nay là phường T, thành phố T) để sống một mình, thi thoảng H2 sang chơi trông nhà cho H. Do cần tiền chi tiêu nên H đã nảy sinh ý định mua ma tuý đá về bán kiếm lời, H thuê H2 bán ma túy cho mình và trả công cho H2 bằng ma túy để H2 mang về tự sử dụng một mình, Hiệp đồng ý. H là người sang đường tàu nội thành Hải Phòng mua ma túy về chia thành nhiều túi nhỏ để bán cho khách. H trực tiếp giao dịch mua bán ma túy tại phòng trọ của mình và nhận tiền của khách thông qua hình thức chuyển khoản vào số tài khoản “0979710880 ngân hàng MB” của H. Khi H không có ở phòng trọ, H nói cho H2 nơi cất giấu ma túy để H2 đến lấy giao cho khách. H đã bán ma túy nhiều lần cho khách nhưng chỉ nhớ 04 lần gần nhất, trong đó có 02 lần H2 tham gia bán ma túy cùng H. Những lần H trực tiếp bán ma túy cho khách, gồm:

  • Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/9/2024, H bán cho Đồng Xuân G và Hoàng Phú T1, sinh năm 1991, nơi cư trú: xã C, huyện T, Hải Phòng (nay là xã Q, thành phố T, Hải Phòng) 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng tại phòng trọ của H, số tiền này G chuyển khoản cho H.
  • Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ ngày 15/9/2024, H bán cho Đồng Xuân G và Hoàng Đắc T2, sinh năm 1992, nơi cư trú: xã K, huyện T, Hải Phòng (nay là xã Q, thành phố T, Hải Phòng) 01 túi ma túy đá với giá 500.000 đồng tại phòng trọ của H, G đã chuyển khoản trả H.

H2 tham gia bán ma túy cùng H 02 lần, cụ thể:

  • Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 16/9/2024, G gọi điện cho H hỏi mua 500.000 đồng ma tuý đá. Sau khi G chuyển tiền, H bảo G đến phòng trọ của mình lấy ma túy. Sau đó, H gọi điện cho H2 bảo lấy 01 túi ma tuý đá cất ở ngăn tủ nhựa trong phòng ngủ của H để bán cho G, Hiệp đồng Ý. Một lúc sau, G cùng với Lê Tiến D, sinh năm 1986, nơi cư trú: xã T, huyện T, Hải Phòng (nay là phường T, thành phố T, Hải Phòng) đến phòng trọ của H. Tại đây, H2 đã lấy ma túy giao cho G và D, sau đó H2 được H trả công bằng một túi ma túy đá, H2 đã mang về nhà một mình sử dụng hết số ma túy trên.
  • Lần thứ hai: Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 17/9/2024, khi H đang ở bệnh viện T4 thì G gọi điện hỏi mua 500.000 đồng tiền ma tuý đá, H đồng ý. Sau khi G chuyển tiền, H hẹn G đến phòng trọ của H lấy ma tuý. Sau đó, H thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi đến khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng mua của một người phụ nữ không quen biết 01 túi ma tuý đá với giá 500.000 đồng, mua được ma túy, H đi xe ôm về phòng trọ. Tại đây, H gặp H2, H lấy túi ma tuý đá vừa mua chia thành 03 túi nhỏ, H cất 01 túi vào ngăn tủ nhựa trong phòng ngủ, 01 túi để tại nền nhà sát đầu giường ngủ, còn 01 túi ma tuý đá H cầm trong lòng bàn tay phải để bán cho G. Khi G đến phòng trọ của H, H đưa túi ma tuý đá trên cho H2 và bảo H2 mang ra đưa cho G. Khi H2 vừa đưa ma tuý cho G thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang, thu giữ cùng vật chứng.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 phong bì niêm phong số 1081/MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại là 0,21 gam Methamphetamine và vỏ bao bì sau giám định; 01 điện thoại nhãn hiệu Huawei màu đen gắn sim số 0979.710.880 của Hồ Việt H; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen gắn sim số 038.634.286 của Vũ Đức H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo gắn sim số 0867.138.590 của Đồng Xuân G; 22 vỏ túi nilon, 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế, 01 đèn lửa khò chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên quản lý.

Tại Bản cáo trạng số 44/CT-VKSLC ngày 06 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuỷ Nguyên đã truy tố Hồ Việt D1, Vũ Đức H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Hồ Việt D1, Vũ Đức H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, các bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b,c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Hồ Việt H mức án từ 10 đến 11 năm tù về tội “ Mua bán phép chất ma túy”; đề nghị xử phạt bị cáo Vũ Đức H2 mức án từ 09 năm đến 10 năm tù về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo; Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 1081/MT/PC09 chứa chất ma túy còn lại là 0,21 gam Methamphetamine, vỏ bao bì sau giám định, 22 vỏ túi nilon, 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng, 01 bộ đồ sử dụng ma túy đá tự chế, 01 đèn lửa khò. Đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Huawei màu đen gắn sim số 0979.710.880 của Hồ Việt H; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen gắn sim số 038.634.286 của Vũ Đức H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo gắn sim số 0867.138.590 của Đồng Xuân G ( theo Biên bản giao nhận vật chứng đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuỷ Nguyên); Đề nghị truy thu số tiền số tiền bị cáo Hồ Việt H đã bán ma tuý trong các ngày 05/9/2024; 15/9/2024; 16/9/2024 và 17/9/2024 là 2.000.000₫ ( Hai triệu đồng); về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, Bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Hồ Việt H, Vũ Đức H2 đã thực hiện hành vi bán ma tuý loại Methamphetamine cho Đồng Xuân G, Hoàng Phú T1, Hoàng Đắc T2, Lê Tiến D2 để kiếm lời, trong vụ án này xác định:

Bị cáo Hồ Việt H trực tiếp bán ma tuý hai lần. Lần thứ nhất bán ma tuý cho Đồng Xuân G và Hoàng Phú T1, lần thứ hai bán ma tuý cho Đồng X giáp và Hoàng Đắc T2 mỗi lần 01 túi ma tuý với giá 500.000 nghìn đồng.

Ngoài ra, bị cáo Hồ Việt H cùng bị cáo Vũ Đức H2 bán ma tuý hai lần: Lần thứ nhất bán ma tuý cho Đồng Xuân G và Lê Tiến D2, lần thứ hai sau khi Đồng Xuân G chuyến tiền để mua ma tuý, H và H2 chuẩn bị đưa ma tuý cho G thì bị phát hiện bắt giữ.

Hành vi của các bị cáo Hồ Việt H và Vũ Đức H2 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý “. Các bị cáo đã bán ma tuý cho nhiều người, nhiều lần. Do đó Tội danh và hình phạt các bị cáo được qui định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Đây là vụ án đồng phạm, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người,

Gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và đặc điểm nhân thân của từng bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hồ Việt H, bị cáo Vũ Đức H2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cảỉ nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân và vai trò của các bị cáo: Bị cáo Hồ Việt H, Vũ Đức H2 chưa có tiền án, tiền sự. Trong vụ án, bị cáo Hồ Việt H là người giữ vai trò chính, là người đề xuất và thực hiện 4 lần bán ma tuý. Đối với bị cáo Vũ Đức H2 trong vụ án thực hiện 2 lần bán ma tuý giúp Hồ Việt H.

[7] Về hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, vai trò, đặc điểm nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt mức án đối với các bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và mức án của bị cáo Hồ Việt H5 cao hơn bị cáo Vũ Đức H2 mới đủ tác dụng cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự thì “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét bị cáo không có công việc thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng: Tại Biên bản giao nhân vật chứng, tài sản ngày 23/01/2025 hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên đang quản lý gồm:

  • 01 bì giấy niêm phong số 1081MT/PC09 chứa chất ma tuý còn lại là 0,21 gam Methamphetamine và vỏ bao bì sau giám định; 22 vỏ túi nilon; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 bộ đồ sử dụng ma tuý tự chế; 01 đèn khò.

Xét, số vật chứng này liên quan đến việc phạm tội, là vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.

  • 01 điện thoại nhãn hiệu Huawei màu đen- gắn sim số 0979710880 của Hồ Việt H; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen, gắn sim số 0386346286 của Vũ Đức H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo, gắn sim số 0867138590 của Đồng Xuân G.

Xét, số vật chứng này công cụ, phương tiện phạm tội cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu sung quỹ nhà nước.

[10] Truy thu đối với bị cáo Hồ Việt H số tiền 2.000.000đ ( Hai triệu đồng) là tiền bán ma tuý trong các ngày 05/9/2024, 15/9/2024, 16/9/2024 và ngày 17/9/2024.

[11] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, các đối tượng Đồng Xuân G, Hoàng Phú T1, Hoàng Đắc T2, Lê Tiến D là những người mua ma túy của H, H2 để sử dụng cho bản thân. Quá trình điều tra xác định, nhân thân các đối tượng G, T1, T2, D không có tiền án, tiền sự về tội ma túy; lượng ma túy thu giữ được của G không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện T (nay là Công an thành phố T) đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với G, T1, T2, D.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Hồ Việt H ở khu vực nội thành H, quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở xử lý.

Đối với anh Trần Văn M1, sinh năm 1970, trú tại thôn G, xã T, huyện T (nay là phường T, thành phố T) là chủ nhà trọ không biết H, H2 sử dụng phòng trọ để mua bán ma tuý nhưng để xảy ra hoạt động mua bán trái phép chất ma tuý tại khu nhà trọ thuộc quyền quản lý của mình, Cơ quan điều tra đã có Công văn đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T (nay là Ủy ban nhân dân thành phố T) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Hồ Việt H, bị cáo Vũ Đức H2 phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý ".

Xử phạt bị cáo Hồ Việt H 10 (M1) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17 tháng 9 năm 2024.

Xử phạt bị cáo Vũ Đức H2 8 (T3) năm 6 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 17 tháng 9 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu huỷ 01 bì giấy niêm phong số 1081MT/PC09 chứa chất ma tuý còn lại là 0,21 gam Methamphetamine và vỏ bao bì sau giám định; 22 vỏ túi nilon; 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng; 01 bộ đồ sử dụng ma tuý tự chế; 01 đèn khò.
  • Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Huawei màu đen- gắn sim số 0979710880 của Hồ Việt H; 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo màu đen, gắn sim số 0386346286 của Vũ Đức H2; 01 điện thoại nhãn hiệu Vivo, gắn sim số 0867138590 của Đồng Xuân G.
  • Truy thu đối với bị cáo Hồ Việt H số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) là tiền bán ma tuý (trong các ngày 05/9/2024, 15/9/2024, 16/9/2024 và ngày 17/9/2024.)

Về án phí: Áp dụng Điều 135; điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Hồ Việt H, bị cáo Vũ Đức H2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Hồ Việt H, bị cáo Vũ Đức H2 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - VKSND TP Thuỷ Nguyên;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - CQCSĐT - Công an TP Hải Phòng;
  • - CQTHAHS - Công an TP Hải Phòng;
  • - Phòng PV06 - Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở tư TP Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam - Công an TP Hải Phòng;
  • - Chi cục THADS TP Thuỷ Nguyên ;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồ Việt H, Vũ Đức H1 Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger