Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HAI BÀ TRƯNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 27-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Hòa.

Bà Mai Xuân Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thi Phi Nga, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/HSST ngày 22 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

1- Họ và tên: Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1992 tại Nam Định; Đăng ký thường trú: Số I H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi ở: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị B; Vợ, con: chưa; Tiền án: Ngày 15/03/2013 TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 21 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, ra trại ngày 30/04/2014 (chưa xóa án tích); Ngày 10/3/2015 TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 30/01/2016 (chưa xóa án tích); Ngày 09/3/2017 TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, Ra trại ngày 26/9/2019 (chưa xóa án tích); Ngày 26/5/2021 TAND thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, ra trại ngày 08/11/2022 (chưa xóa án tích). Nhân thân: Ngày 25/7/2007 TAND thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Cướp tài sản (Đã xóa án tích); Ngày 30/7/2014 Công an thành phố N xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích (Đã hết thời hiệu). D chỉ bản số: 591 ngày 21/10/2024 của Công an quận H, thành phố Hà Nội. Bị truy nã theo Quyết định số 4042/QĐTN-ĐCSHS ngày 12/9/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận H về tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự. Ngày 07/11/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an quận H đã ra quyết định đình nã số 4826/QĐĐN - ĐCSHS. Ngày 14/01/2025 Viện KSND quận H đã ra Cáo trạng số 21/CT-VKS truy tố đối với Nguyễn Mạnh T về tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại điểm g khoản 2 Điều 178 BLHS. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/10/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

2- Họ và tên: Phạm Duy H, sinh năm 1988 tại Nam Định; Đăng ký thường trú: Số E B, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi ở: Không nơi ở cố định; Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Duy T2 và bà Đặng Thị H1; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân Thân: Ngày 06/01/2009 Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích và Cố ý làm hư hỏng tài sản, được đặc xá từ ngày 30/8/2010 (Đã xóa án tích); Ngày 28/9/2015 Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, ra trại ngày 21/7/2016 (Đã xóa án tích). D chỉ bản số: 592 ngày 21/10/2024 của Công an quận H, thành phố Hà Nội. Bị cáo bị bắt quả tang ngày 13/10/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại giam S1 - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 12/10/2024, Nguyễn Mạnh T điều khiển xe ô tô BKS: 30E -306.90 nhãn hiệu Mazda màu đỏ đến quán nước ở B phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định thì gặp Phạm Duy H đang ngồi uống nước, T rủ H đi lên Hà Nội chơi và H đồng ý, T đã điều khiến xe ô tô chở H từ thành phố N đến khách sạn A số E phố T, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội để làm thủ tục thuê phòng 403, tầng 4 Khách sạn A. Tại phòng 403 khách sạn A, T sử dụng tài khoản Telegram của T hỏi mua 3.000.000đồng tiền ma túy hồng phiến của một người nam giới (không rõ nhân thân, lai lịch) mục đích sử dụng cho bản thân. Đồng thời, H cũng liên lạc qua ứng dụng Telegram với một người đàn ông tên là Q (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua 1.000.000đồng tiền ma túy đá của Q. Sau đó, T và H cùng đi ra khỏi phòng, H là người cầm chìa khóa phòng. Khi đi đến cửa khách sạn, T, H mỗi người đi một hướng khác nhau và không nói đi đâu, làm gì. Phạm Duy H đi bộ một mình đến khu vực cổng công viên T trên đường Đ, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội để mua ma túy của một người đàn ông tên Q đã liên lạc trước đó qua ứng dụng Telegram. Tại đây, H đã mua của Q 01 (một) túi nilong màu trắng có chứa các tinh thể màu trắng là ma túy đá với giá 1.000.000đồng, Q cho H 01 (một) cốc thuỷ tinh để H sử dụng ma túy đá. Sau khi mua được ma túy H đã cất giấu ma túy cùng dụng cụ sử dụng vào trong người, xóa hết liên lạc giữa H và người bán ma túy cho H rồi quay lại khách sạn để sử dụng ma túy.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 12/10/2024, T đi đến khu vực đối diện Cổng bệnh viện T5, quận H, Thành phố Hà Nội gặp một người nam giới đã liên lạc từ trước ứng dụng T3 để mua ma túy hồng phiến của anh ta. Tại đây, anh ta đưa cho T 01 túi nilong màu xanh bên trong có chứa các viên nén màu hồng (T biết các viên nén màu hồng là ma tuý hồng phiến) và anh ta cho T 01 (một) cuộn giấy bạc để T sử dụng ma túy. T cất giấu số ma túy và giấy bạc trong người, xóa liên lạc giữa T và người bán ma túy cho T rồi về khách sạn đã thuê phòng để sử dụng ma túy. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày khi về đến phòng thuê tại khách sạn A, T thấy H ở trong phòng đang sử dụng ma túy đá bằng chiếc coóng thuỷ tinh trên bàn uống nước. Lúc này, T lấy 05 (năm) viên ma tuý hồng phiến vừa mua được nghiền nhỏ cho vào giấy bạc và đốt thành khói để hít vào cơ thể dần. Sau đó, H xin T ma tuý hồng phiến để sử dụng và T đồng ý. T đã nghiền nhỏ 01 (một) viên ma túy hồng phiến và cho vào tờ giấy bạc khác rồi châm lửa đốt thành khói để H hít vào cơ thể. Sau đó, H tiếp tục sử dụng ma túy đá của H, T tiếp tục sử dụng ma túy hồng phiến của T.

Đến khoảng 11 giờ 15 phút ngày 13/10/2024, Tổ công tác Công an phường Q, phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận H tiến hành kiểm tra phòng 403 Khách sạn A - số E phố T, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội phát hiện Nguyễn Mạnh T và Phạm Duy H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại thời điểm kiểm tra, T tự giao nộp cho Tổ công tác 01 (một) túi nilong màu xanh kích thước khoảng 7 ×10cm, bên trong có chứa các viên nén màu hồng, 02 (hai) mảnh giấy bạc bị cháy xém, đều dính chất màu hồng, 01 (một) cuộn giấy bạc đang để trên bàn uống nước trong phòng và T tự khai nhận các viêm nén màu hồng là ma túy hồng phiến cùng dụng cụ T mua để sử dụng và mời H cùng sử dụng; H tự giao nộp cho Tổ công tác 01 (một) túi nilon màu trắng kích thước khoảng 3×4cm bên trong chứa tinh thể màu trắng, 01(một) coóng thuỷ tinh có dính tinh thể màu trắng và tự khai nhận đó là ma túy đá và dụng cụ để H sử dụng ma túy. Tổ công tác đã tạm giữ, niêm phong vật chứng và đưa Nguyễn Mạnh T và Phạm Duy H cùng vật chứng về trụ sở Cơ quan Công an để xác minh, làm rõ. Ngoài ra, Tô công tác còn thu giữ của: Phạm Duy H 01 điện thoại Samsung Galaxy M15 màu xanh, đã qua sử dụng. Số IMEI 1: 351637480444482, số IMEI 2: 351637480444484; 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, đã qua sử dụng. Số IMEI 1 :357210363191952, số IMEI 2: 357210363249925. Thu giữ của Nguyễn Mạnh T: 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, đã qua sử dụng bị vỡ màn hình. Số IMEI: 353810082315180; 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng. Số IMEI 1: 353990101271877, số IMEI 2: 353990101181894 và 01 xe ôtô nhãn hiệu Madza màu đỏ, BKS: 30E - 306.90.

Xét nghiệm nước tiểu ngày 13/10/2024 của Nguyễn Mạnh T và Phạm Duy H có kết quả dương tính với chất ma túy. Ngày 14/10/2024 Cơ quan CSĐT - Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 3940/QĐ-ĐCSMT số ma túy và đồ vật đã thu giữ của Phạm Duy H. Tại Kết luận số 7520A ngày 23/10/2024 của Phòng K - Công an thành phố H thể hiện: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng: 0,606 gam; 01 coóng thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine”. Ngày 14/10/2024 Cơ quan CSĐT - Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 3941/QĐ-ĐCSMT số ma túy và đồ vật đã thu giữ của Nguyễn Mạnh T. Tại Kết luận số 7514 ngày 23/10/2024 của Phòng K - Công an thành phố H thể hiện: “Các viên nén màu hồng bên trong 01 túi nilong màu xanh đều là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 6,766 gam 02 mảnh giấy bạc đều có dính ma túy loại Methamphetamine”.

Ngày 21/11/2024 Cơ quan CSĐT - Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 4198/QĐ-ĐCSMT đối với chiếc xe ô tô thu giữ của Nguyễn Mạnh T. Tại Kết luận giám định số 8386/KL-KTHS ngày 03/12/2024 của Phòng K Công an thành phố H thể hiện: “1. Xe ô tô nhãn hiệu MAZDA, đeo BKS: 30E-306.90: Số khung: RN2DL4AA6FC027366 và số máy: P5 20331780 là số nguyên thủy. 2. Không giám định 02 (hai) biển kiểm soát: 30E-306.90 do không có mẫu so sánh".

Tại cơ quan công an Nguyễn Mạnh T khai nhận: T là người thuê phòng và thanh toán tiền thuê tại Khách sạn A. Việc T mua ma túy hồng phiến đề sử dụng cho bản thân, giữa T và H không bàn bạc, thống nhất về việc đi mua ma túy về sử dụng. Khi H xin ma túy của T để dùng thử thì T đồng ý và đã lấy ma túy hồng phiến nghiền nhỏ cho vào giấy bạc rồi châm lửa đốt thành khói để H sử dụng. T không yêu cầu H trả tiền khi sử dụng ma túy của T và đây là lần đầu tiên T cho H ma túy để sử dụng. Lời khai của T phù hợp với lời khai của H và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Tại Cơ quan công an, Phạm Duy H khai nhận: H mua ma túy đá để sử dụng cho bản thân, không có ai khác cùng sử dụng ma túy đá với H, giữa H và T không bàn bạc, thống nhất về việc đi mua ma túy về sử dụng. Khi H thấy T sử dụng ma túy hồng phiến, H đã xin T ma túy hồng phiến để sử dụng và T đã lấy ma túy hồng phiến của T và dụng cụ châm lửa cho H sử dụng. H không phải trả tiền khi sử dụng ma túy hồng phiên của T.

Đối với anh Nguyễn Văn Q1 là quản lý khách sạn A số E T, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội cho T và thuê phòng 403: Quá trình điều tra xác định, anh Q1 cho T và H thuê phòng để nghỉ, không biết việc T và H sử dụng phòng khách sạn để sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Nguyễn Mạnh T vào ngày 12/10/2024: Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã tiến hành dẫn giải T đến khu vực trước số nhà A phố T, phường Q, quận H, Thành phố Hà Nội để truy tìm đối tượng bán ma túy cho T nhưng T không xác định được. Do vậy, Cơ quan CSĐT không có căn cứ xác minh, làm rõ. Đối với đối tượng tên Q đã bán ma túy cho Phạm Duy H vào ngày 12/10/2024: Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã tiến hành dẫn giải H đến khu vực Cổng công viên T trên phố Đ, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội để truy tìm đối tượng tên Q nhưng H không xác định được. Do vậy, Cơ quan CSĐT không có căn cứ xác minh, làm rõ.

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda 2 màu đỏ, BKS: 30E – 306.90 thu giữ của Nguyễn Mạnh T: Quá trình điều tra chiếc xe có số khung, số máy nguyên thủy, chủ sở hữu xe là anh Trần Quang T4, sinh năm 1970, nơi thường trú: 62B/377, tổ B phường D, quận C, Thành phố Hà Nội. Ngày 10/10/2024 anh T4 cho T thuê xe, có ký hợp đồng thuê xe tại số D phố K, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội với giá 12.000.000đồng và T hứa trả xe khi hết hợp đồng. Việc T sử dụng chiếc xe ô tô thuê của anh T4 và vi phạm pháp luật thì anh T4 không biết. Anh T4 không yêu cầu T bồi thường và không yêu cầu T trả tiền thuê xe và có nguyện vọng xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại, kinh doanh. Ngày 10/12/2024, Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 4425/QĐ-ĐCSMT trao trả chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda màu đỏ, BKS: 30E – 306.90 đã qua sử dụng, không rõ chất lượng cho anh Trần Quang T4. Anh T4 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Đối với 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Duy H và 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Mạnh T: Quá trình điều tra xác định là tài sản của H và T, H và T sử dụng những chiếc điện thoại này để liên lạc hỏi mua ma túy. Đối với 01 điện thoại Samsung Galaxy M15 màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Duy H và 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, đã qua sử dụng bị vỡ màn hình thu giữ Nguyễn Mạnh T: Quá trình điều tra xác định là tài sản của H và T, H và T không sử dụng những chiếc điện thoại này để thực hiện hành vi mua bán ma túy.

Đối với 01 (một) coóng thuỷ tinh có dính tinh thể màu trắng, 02 mảnh giấy bạc bị cháy xém dính chất màu hồng, 01 cuộn giấy bạc đã thu giữ, quá trình điều tra xác định T và H sử dụng những đồ vật này vào việc sử dụng ma túy.

Bản cáo trạng số 06/CT -VKSHBT ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Mạnh T về tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Truy tố Phạm Duy H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung đã nêu trên là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 255; điểm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh T từ 08 đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo Nguyễn Mạnh T phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội là từ 14 năm đến 15 năm 06 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp thu nhập ổn định. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Duy H từ 30 đến 36 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp thu nhập ổn định.

Đề nghị căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 6,766 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo T và 0,606 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo H và tịch thu tiêu hủy 01 coóng thuỷ tinh có dính tinh thể màu trắng, 02 mảnh giấy bạc bị cháy xém dính chất màu hồng, 01 cuộn giấy bạc đã thu giữ là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng. Đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Duy H và 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Mạnh T các bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy. Trả lại 01 điện thoại Samsung Galaxy M15 màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Duy H và 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen, đã qua sử dụng bị vỡ màn hình thu giữ Nguyễn Mạnh T là tài sản riêng của các bị cáo.

Các bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên toà các bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án thể hiện như sau: Khoảng 21h30 phút ngày 12/10/2024, tại phòng 403 Khách sạn A số E phố T, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội bị cáo Nguyễn Mạnh T có hành vi cung cấp trái phép chất ma túy cho bị cáo Phạm Duy H để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 15 phút ngày 13/10/2024 bị Công an quận H phát hiện, bắt quả tang thu giữ của bị cáo Nguyễn Mạnh T 6,766gam ma túy loại Methamphetamine. Thu giữ của bị cáo Phạm Duy H 0,606gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh T cung cấp chất ma túy cho người khác sử dụng trái phép cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo T phạm tội lần này xác định là tái phạm nguy hiểm đây là tình tiết định khung được quy định tại điềm h khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Nguyễn Mạnh T còn tàng trữ 6,766gam ma túy loại Methamphetamine mục đích để sử dụng cho bản thân cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Phạm Duy H cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử các bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.

[3] Hành vi của các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác trên địa bàn. Ma tuý là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, vì nó trực tiếp huỷ hoại sức khoẻ làm ảnh hưởng đến nòi giống. Hơn thế nữa ma tuý còn làm tan nát hạnh phúc và sự bình yên của nhiều gia đình. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên các bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Các bị cáo là các đối tượng có nhiều tiền án tiền sự thể hiện nhân thân xấu. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Các bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải. Đó là tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với pháp luật. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ, mức đề nghị hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Mạnh T về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có phần nghiêm khắc, do vậy Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng mức hình phạt thấp hơn mức đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có thu thập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 6,766 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo T và 0,606 gam Methamphetamine thu giữ của bị cáo H và Tịch thu tiêu hủy 01 coóng thuỷ tinh có dính tinh thể màu trắng, 02 mảnh giấy bạc bị cháy xém dính chất màu hồng, 01 cuộn giấy bạc đã thu giữ là vật chứng của vụ án không còn giá trị sử dụng. Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, đã qua sử dụng thu giữ của Phạm Duy H và 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, đã qua sử dụng thu giữ của Nguyễn Mạnh T các bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy.

Cần trả lại bị cáo Phạm Duy H 01 điện thoại Samsung Galaxy M15 màu xanh và trả lại bị cáo Nguyễn Mạnh T 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu đen các bị cáo không sử dụng vào hành vi phạm tội.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điềm h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh T: 07(Bảy) năm 06(S) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điềm g, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Mạnh T: 06 (S) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ Điều 55 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Nguyễn Mạnh T phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội là 13(Mười ba) năm 06(S) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2024.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Duy H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điềm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Duy H: 30(Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2024

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Căn cứ vào Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bì giấy niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký của giám định viên và bị cáo Nguyễn Mạnh T, bên trong có 01 túi nilon màu xanh kích thước khoảng 07×10cm chứa các viên nén màu hồng đều là ma túy loại Methamphetamine, tổng khối lượng là 6,766 gam; 02 mảnh giấy bạc đều có dính ma túy loại Methamphetamine và 01 bì giấy niêm phong còn nguyên vẹn bên trong có 01 túi nilon màu trắng kích thước khoảng (03 × 04)cm chứa tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,606 gam; 01 coóng thủy tinh có dính ma túy loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định), bên ngoài có chữ ký của giám định viên và bị cáo Phạm Duy H; 01 cuộn giấy bạc không còn giá trị sử dụng; Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu trắng, số IMEI 1: 353990101271877; số IMEI 2: 353990101181894, đã qua sử dụng, không rõ chất lượng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu xanh, số IMEI 357210363191952; số IMEI 2: 357210363249925, đã qua sử dụng, không rõ chất lượng.

Trả lại bị cáo Nguyễn Mạnh T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số IMEI: 353810082315180, đã bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng, không rõ chất lượng; Trả lại bị cáo Phạm Duy H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung M15 màu xanh, số IMEI 1: 351637480444482, số IMEI 2: 358561970444484 đã qua sử dụng, không rõ chất lượng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận H với Chi cục thi hành án quận Hai Bà Trưng số 92/25 ngày 14/02/2025.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phạm Duy H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND Q. Hai Bà Trưng.
  • - VKS TP. Hà Nội
  • - Công an Q. Hai Bà Trưng.
  • - Bị cáo.
  • - Lưu./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Tiến

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger