|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/HSST
Ngày: 27/02/2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, TP . HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Kế Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Huệ - Giáo viên
2. Bà Nguyễn Thị Việt – Giáo viên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 27/02/2025, tại Trụ sở tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 20/2025/HSST, ngày 24 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Vàng Trung H, sinh năm 2004. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi thường trú: TDP T, Thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Nhân viên quán B. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: HMông. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Văn hóa: 12/12. Bố đẻ: Ông Vàng A D, mẹ đẻ: Bà Vũ Thị G. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp. Tạm giữ từ ngày 28/9/2024 đến ngày 07/10/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Phúc D1, SN 2004. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Bố đẻ: Ông Nguyễn Phúc G1, mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị N; Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba. Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp. Tạm giữ từ ngày 28/9/2024 đến ngày 07/10/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Bảo N1, sinh năm 2003. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi cư trú, thường trú: TDP T, thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: nhân viên lái xe quán B. Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Bố đẻ: Ông Nguyễn Trung K, mẹ đẻ: Bà Lê Thị Hoa H1; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp. Tạm giữ từ ngày 28/9/2024 đến ngày 07/10/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Tuấn N2 - SN 2004. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: nhân viên bếp quán B. Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Bố đẻ: Ông Nguyễn Văn H2, mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị N3. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ 2. Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp. Tạm giữ từ ngày 28/9/2024 đến ngày 07/10/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Đào Trường G2, Sinh ngày: 14/07/2007 (khi phạm tội ngày 28/9/2024, bị cáo G2 17 tuổi 02 tháng 2 tuần). Tên gọi khác: Không. Nơi thường trú: Thôn G, xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. Chỗ ở: C, quận B, thành phố Hà Nội. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Tày. Tôn giáo: Không. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Nghề nghiệp: nhân viên bếp quán B. Văn hóa: 9/12. Bố đẻ: Ông Đào Văn S1, mẹ đẻ: Bà Lương Thị H3. Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2. Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp. Tạm giữ từ ngày 28/9/2024 đến ngày 07/10/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Tiến M, sinh năm 2004. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi thường trú: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Nhân viên bếp quán B. Văn hóa: 9/12. Bố đẻ: Ông Nguyễn Văn H4, mẹ đẻ: Bà Nguyễn Thị V. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo khởi tố tại ngoại. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Trần Duy T, Sinh năm: 1998. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi thường trú: TDP số E, Thị trấn L, huyện V, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Lái xe quán bia H5 lùn. Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: Thiên chúa giáo. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không. Bố đẻ: Ông Trần Văn C, mẹ đẻ: Bà Đào Thị L. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo khởi tố tại ngoại. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú – Có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Đào Trường G2 Ông Đào Văn S1, mẹ đẻ: Bà Lương Thị H3 – có mặt.
Người bào chữa: Cho bị cáo Đào Trường G2; Bà Nguyễn Phương A - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp Pháp lý nhà nước thành phố H.(Có mặt)
Bị hại: Anh Đàm Văn T1, Sinh năm 1995;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01h30' ngày 28/9/2024, Vàng Trung H một mình đi xe máy trên đường V, phường Đ thì bị 01 xe máy chở 03 người (H không quen biết) đạp vào người. H liền phóng xe về chỗ làm là quán B có địa chỉ: Số A N, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Trên đường đi H gọi điện thoại báo cho Nguyễn Bảo N1 biết, khi đến quán bia thấy Nguyễn Tiến M; Trần Duy T; Nguyễn Tuấn N2, Đào Trường G2 và Nguyễn Phúc D1 đang ngồi ăn uống tại quán thì H nói mình bị đánh và rủ cả nhóm đi đánh lại 03 người kia. Sau đó G2 chạy vào khu vệ sinh lấy 01 gậy bóng chày bằng kim loại màu đen; N2 lấy 01 thanh kim loại phi 21 và cả nhóm đi 02 xe máy gồm: H điều khiển xe máy nhãn hiệu H8, BKS 21K1 -305.23 chở G2, T; D1 điều khiển xe máy Exciter, BKS 29X1-732.66 chở N2, M. Khi đi qua ngã 3 đường L thì nhóm của H nhìn thấy 01 xe máy Honda Wave, màu xanh bạc BKS 22S1 - 472.92 do anh Đàm Văn T2 chở anh Đàm Văn T1, anh Đàm Văn N4 đang đi hướng ngược lại thì H nghi nhóm này vừa gây sự với mình nên hô lên “Chúng nó đây rồi” và đình chặn xe lại. Thấy vậy anh T2 sợ quá nên phóng xe bỏ chạy, Nguyễn Phúc D1 điều khiển xe máy chở N2, M phóng xe đuổi theo đến đoạn đường Đ (lối vào khu tập thể viện khoa học L2) thì ép xe của anh T2 dừng lại. Lúc này H cùng điều khiển xe đến song song với xe của anh T2. G2 ngồi giữa có nói “chúng mày đánh anh tao phải không?” rồi dùng tay phải cầm gậy bóng chày đánh vào nhóm anh T2 thì trúng vào đầu anh T1 (ngồi giữa). D1 dùng tay không đấm 1 phát vào người anh T2. Nhóm anh T2, T1, N4 sợ quá, có bảo các anh đánh nhầm người rồi và vứt xe máy bỏ chạy vào trong khu tập thể viện Khoa học Lâm N5 nhưng nhóm của H, G2, M, T, D1, N2 vẫn tiếp tục đuổi theo. Lúc này Nguyễn Bảo N1 chở Bùi Phương H6 đi đến. Khi anh T1, T2, N5 chạy vào trong khu tập thể được khoảng 02 phút thì không thấy ai đuổi nữa. Do anh T1 bị chảy máu ở đầu nên anh T2 và anh N5 đưa đi cấp cứu nhưng khi ra đến đầu ngõ thì bị nhóm của H phát hiện. Anh T1, T2, N5 bỏ chạy theo 03 hướng khác nhau. Anh H chạy vào ngõ 40/1/2 thì bị nhóm của H bắt gặp. H dùng tay không đấm vào vai, dùng chân đá vào chân anh T1. Anh T1 nằm xuống đất, hai tay ôm đầu, thì G2 dùng chân đá vào lưng anh T1, N2 dùng tuýp sắt vụt vào mông và đá một phát vào lưng anh T1; N1 thì dùng gậy bóng chày vụt thêm 02 phát vào lưng anh T1, sau đó anh T1 kêu lên “anh ơi tha cho em, em bị chảy máu rồi” thì N2 hô lên “thôi đừng lại”. Lúc này, T đuổi theo và yêu cầu anh N5 quay lại nói chuyện nhưng anh N5 lo sợ nên bỏ chạy về hướng Lê Văn H7. Sau đó T quay lại tìm nhóm của H và đi về quán bia Huy L1 để ngủ, còn nhóm anh Tiến N6 quay lại đưa anh T1 đi cấp cứu tại bệnh viện E.
Vật chứng thu giữ:
Của Vàng Trung H: 01 xe máy kiểu dáng Honda Blade màu đỏ đen, BKS 21K1- 305.23, số máy: JA36E0469087; số khung: 364XGY033953; xe đã qua sử dụng (BL 191)
Của Đào Trường G2: 01 gậy bóng chày bằng kim loại màu đen dài khoảng 80cm (BL 231).
của Nguyễn Tuấn N2: 01 thanh kim loại hình trụ phi 21 dài khoảng 60cm.
của Nguyễn Phúc D1: 01 xe máy kiểu dáng Yahama Exciter màu tím trắng, không có BKS, số khung: RLCVG 0610JY725883, số máy: G3D43-754713 đã qua sử dụng (BL 277).
Biên bản xác minh thương tích ban đầu của anh Đàm Văn T1 tại Bệnh viện E xác định: Vết thương vùng trán trái (ngoài chân tóc) = 03%. Vỡ xương trán trái = 08%. Tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái = 11%
Hiện chưa đánh giá được hết di chứng, biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị, ổn định ra viện.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1342 ngày 04/10/2024 của Trung tâm pháp y – Sở Y kết luận như sau:
Các kết quả chính: Vết thương vùng trán trái (ngoài chân tóc): 03%. Vỡ xương trán trái = 08%. Tụ máu ngoài màng cứng vùng trái trái = 11%.
Kết luận:
2.1. Tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Đàm Văn T1 tại thời điểm giám định là 21% (Hai mươi mốt phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT.
2.2. Kết luận khác:
Cơ chế hình thành thương tích: Các tổn thương của anh Đàm Văn T1 do vật tày, vật tày có cạnh gây ra.
Hiện chưa đánh giá được hết các tổn thương và mức độ di chứng, biến chứng của tổn thương, đề nghị giám định bổ sung sau khi ra viện và đã điều trị ổn định (BL 167-170).
Ngày 10/10/2024, cơ quan CSĐT - Công an quận B có Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 5223 đối với thương tích của anh Đàm Văn T1. Tuy nhiên anh T1 từ chối giám định thương tích bổ sung và không có đề nghị gì khác (BL 181-182).
Anh Đàm Văn T2, anh Đàm Văn N4 trình bày không bị thương tích gì nên từ chối giám định thương tích và không có đề nghị gì khác (BL 350-362).
Xác minh xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 21K1 -305.23 đăng ký mang tên anh Nguyễn Tiến T3. Anh T3 trình bày: chiếc xe trên do anh T3 mua và đăng ký năm 2017, sau đó do không có nhu cầu sử dụng nên bán cho chị Vũ Thị G. Chị G trình bày cho H mượn xe máy trên để đi lại (BL 356-357).
Xác minh xe máy nhãn hiệu Y1, mang BKS 29X1 -732.66 đăng ký mang tên chị Nguyễn Thị N. Chị N trình bày chiếc xe trên là của chị thường để xe ở nhà. Ngày 28/9/2024, chị không biết D1 tự ý lấy xe sử dụng (BL 358).
Ngày 30/12/2024, cơ quan CSĐT - Công an quận B có Quyết định xử lý vật chứng số 8016 trao trả chiếc xe máy Honda Airblade, BKS 21K1 -305.23 cho chị Vũ Thị G; trả xe Yamaha Exciter, mang BKS 29X1 - 732.66 cho chị Nguyễn Thị N. Chị N và chị G đã nhận lại xe và không có ý kiến gì khác (BL 365-367).
Ngày 07/01/2025, Công an quận B ra QĐ xử phạt vi phạm hành chính:
- Đối với Vàng Trung H về hành vi:
- + Điều khiển xe mô tô không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” quy định tại điểm n khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ – CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ mức phạt 500.000 đồng.
- + Chở người ngồi trên xe không “đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” quy định tại điểm n khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ – CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ mức phạt 500.000 đồng.
- + Chở theo 02 người trên xe quy định tại điểm i khoản 2 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ đồng. CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ mức phạt 350.000
- Đối với Nguyễn Phúc D1 về hành vi:
- + Điều khiển xe mô tô không đội “mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” quy định tại điểm n khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ - CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ mức phạt 500.000 đồng.
- + Chở người ngồi trên xe không “đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy” quy định tại điểm n khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ - CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ mức phạt 500.000 đồng.
- + Chở theo 02 người trên xe quy định tại điểm i khoản 2 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ đồng. CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ mức phạt 350.000
- + Điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xilanh dưới 175 cm³ không có Giấy phép lái xe quy định tại điểm a khoản 5 Điều 21 Nghị định 100/2019/NĐ - CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ mức phạt 1.200.000 đồng
Đối với Nguyễn Tuấn N2, Trần Duy T, Nguyễn Tuấn M1, Đào Trường G2 về hành vi không “đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy" quy định tại điểm n khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ CP ngày 30/12/2019 của Chính Phủ mức phạt 500.000 đồng; Riêng Đào Trường G2 (chưa đủ 18 tuổi) mức phạt 250.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho anh Đàm Văn T1 số tiền 130.000.000 đồng. Anh T1 không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đối với Bùi Phương H6 chỉ đi cùng Nguyễn Bảo N1 không tham gia đánh gây thương tích cho anh Đàm Văn T1 nên Công an quận B không xử lý.
Tại cơ quan CSĐT - Công an quận B, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như trên.
Đối với vật chứng thu giữ là 01 gậy bóng chày màu đen, 01 thanh kim loại hình trụ phi 21 là tang vật của vụ án.
Tại phiên tòa: Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, xác nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố là đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, các bị cáo đã bồi thường cho anh Đàm Văn T1 số tiền 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng). Anh T1 đã nhận đủ tiền bồi thường, không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, được đi làm giúp đỡ gia đình.
- Đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, đánh giá nhân thân của các bị cáo đã kết luận giữ quan điểm như cáo trạng truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 nhưng thuộc điểm a khoản 1 Điều 134, Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 65 (bị cáo G2 thêm Điều 90, 91) của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo:
Vàng Trung H từ 28 đến 32 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 56 đến 60 tháng.
Đào Trường G2 từ 26 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 52 đến 60 tháng.
Nguyễn Bảo N1, Nguyễn Tuấn N2 từ 26 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 52 đến 60 tháng.
Nguyễn Phúc D1, Nguyễn Tiến M, Trần Duy T từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.
Giao các bị cáo về nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
Dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường không có yêu cầu gì về Dân sự nên không xét.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gậy bóng chày màu đen bằng kim loại dài khoảng 80cm; 01 thanh kim loại hình trụ phi 21 dài khoảng 60 cm.
- Người bào chữa cho các bị cáo G2 trình bày: Đồng ý về tội danh mà Viện kiểm sát đề nghị. Đề nghị HĐXX xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như độ tuổi mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo G2 các tình tiết giảm nhẹ TNHS tại Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91 BLHS. Bị cáo G2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1, khoản 2, điều 51 nên đề nghị HĐXX tuyên phạt bị cáo mức thấp nhất so với đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Áp dụng Điều 65 cho bị cáo hưởng án treo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bào chữa cho bị cáo G2 và của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 01h ngày 28/9/2024, tại ngõ D đường Đ, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội, Vàng Trung H, Đào Trường G2, Nguyễn Bảo N1, Nguyễn Tuấn N2, Nguyễn Phúc D1, Trần Duy T, Nguyễn Tiến M có hành vi dùng gậy bóng chày màu đen, bằng kim loại dài khoảng 80 cm; 01 thanh kim loại hình trụ phi 21, dài khoảng 60 cm đánh anh Đàm Văn T1 gây tổn thương cơ thể là 21%. Các bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho anh Đàm Văn T1. Anh T1 đã nhận tiền bồi thường, không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
[2] Hành vi nêu trên của bị cáo Vàng Trung H, Đào Trường G2, Nguyễn Bảo N1, Nguyễn Phúc D1, Nguyễn Tuấn N2, Nguyễn Tiến M, Trần Duy T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 nhưng thuộc điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.
[3] Đánh giá về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, các bị cáo phạm tội lần đầu, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng và sức khỏe của con người được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo không có mâu thuẫn gì với bị hại vì nhận nhầm người mà các bị cáo không kiềm chế được nóng giận bị cáo G2 đã dùng gậy sắt đánh vào đầu gây thương tích cho anh T1 có tính chất côn đồ theo Điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Anh T1 thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 21%. Việc cá nhân của bị cáo H vì mâu thuẫn va chạm nhỏ ngoài đường không kiềm chế về nói với Đào Trường G2, Nguyễn Bảo N1, Nguyễn Phúc D1, Nguyễn Tuấn N2, Nguyễn Tiến M, Trần Duy T là người cùng làm việc trong quán bia đi đánh nhau làm mất an ninh trật tự xã hội. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp làm tổn hại sức khỏe anh T1, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rất rõ việc gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác cũng như coi thường pháp luật.
Xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu bị đưa ra xét xử, bị cáo H là người dân tộc HMông, bị cáo G2 là người dân tộc Tày, các bị cáo đã bồi thường toàn bộ cho bị hại anh T1. Bị hại anh T1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo đã được phân tích ở trên, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy khi lượng hình cần phân hóa vai trò của từng bị cáo. Bị cáo H là người về rủ và chở G2, T đi đánh T1, bị cáo G2 là người trực tiếp lấy gậy bóng chày và cũng là người vụt vào đầu anh T1 gây thương tích cho anh T1. Khi lượng hình cần xử bị cáo H với mức án cao nhất, bị cáo G2 khi phạm tội bị cáo G2 mới được 17 tuổi 02 tháng 2 tuần do đó khi lượng hình nhằm mục đích giáo dục bị cáo để bị cáo nhận thấy sai lầm sửa chữa trở thành công dân có ích cho xã hội, bị cáo Nguyễn Bảo N1, Nguyễn Phúc D1, Nguyễn Tuấn N2, Nguyễn Tiến M, Trần Duy T tham gia đồng phạm giản đơn vai trò không đáng kể. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo đã được phân tích ở trên. Hội đồng xét xử thấy cần mở lượng khoan hồng cho các bị cáo cơ hội tiếp tục làm lại sau lầm lỡ, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự giáo dục cải tạo hoàn lương, các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội không gây nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo thành người lương thiện, sống có ích trong xã hội. Giao các bị cáo về nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh T1 đã nhận đủ tiền bồi thường không có yêu cầu gì khác nên HĐXX không xét
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gậy bóng chày màu đen bằng kim loại dài khoảng 80cm; 01 thanh kim loại hình trụ phi 21 dài khoảng 60 cm vì không có giá trị sử dụng.
[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với vụ án: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt các bị cáo như nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[8] Về đề nghị của Trợ giúp viên pháp lý cho bị cáo G2 là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[10] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm đ khoản 2 nhưng thuộc điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự, Điểm b, s Khoản 1,2 Điều 51, Điều 47, 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo G2 thêm Điều 90, 91 của Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Vàng Trung H, Đào Trường G2, Nguyễn Bảo N1, Nguyễn Phúc D1, Nguyễn Tuấn N2, Nguyễn Tiến M, Trần Duy T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt:
-
Bị cáo Vàng Trung H 32 (Ba mươi hai) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Bị cáo Đào Trường G2 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 52 (Năm mươi hai) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND xã Đ, huyện V, tỉnh Yên Bái. quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Bị cáo Nguyễn Bảo N1 30 (Ba mươi) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND thị trấn S, huyện V, tỉnh Yên Bái. quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Bị cáo Nguyễn Phúc D1 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 52 (Năm mươi hai) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Bị cáo Nguyễn Tuấn N2 30 (Ba mươi) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND xã T, huyện C, thành phố Hà Nội. quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Bị cáo Nguyễn Tiến M 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 52 (Năm mươi hai) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ. quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
-
Bị cáo Trần Duy T 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 52 (Năm mươi hai) tháng kể từ ngày Tòa tuyên án.
Giao bị cáo cho UBND Thị trấn L, huyện V, tỉnh Yên Bái. quản lý giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Theo quy định tại khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ vào Điểm a Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, 1 Điều 331, Khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a, Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Về trách nhiệm dân sự: Không.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gậy bóng chày màu đen, bằng kim loại, dài khoảng 80 cm, đã qua sử dụng. 01 (một) thanh kim loại hình trụ phí 21, dài khoảng 60 cm, đã qua sử dụng. Vật chứng trên hiện ở Chi cục thi hành dân sự quận B, theo biên bản giao nhận vật chứng số 114/25 ngày 11.02.2025.
Về án phí: Bị cáo Vàng Trung H, Đào Trường G2, Nguyễn Bảo N1, Nguyễn Phúc D1, Nguyễn Tuấn N2, Nguyễn Tiến M, Trần Duy T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm
Các Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị cáo G2, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lý Kế Hiền |
Bản án số 31/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 31/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Vàng Trung H và đp phạm tội cố ý gây thương tích
