|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày: 26-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vương Thanh Minh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân
2. Bà Cao Thị Thúy
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quảng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 179/2024/TLST - HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 24/2025/QĐXXST - HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị N. Tên thường gọi khác: Không, sinh ngày 16 tháng 11 năm 1995, tại huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi thường trú: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: Xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N1 (Đã chết) và con bà Phan Thị H, sinh năm 1976; anh chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; chồng: Trần Viết T; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2023, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Anh Lương Văn T1, sinh năm 1984. (Vắng mặt)
Trú tại: K, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Chị Phạm Thị X, sinh năm 1974. (Vắng mặt)
Trú tại: Xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng thời gian tháng 5/2024, do từng có thời gian làm cộng tác viên tại cơ sở phân phối thiết bị gia dụng, nên Nguyễn Thị N có biết được thông tin của một số cửa hàng chuyên mua hàng điện máy gia dụng nên nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản. N sử dụng tài khoản Zalo tên Phạm X, đăng ký số điện thoại 0835.352.xxx là sim số không chính chủ của Nguyễn Thị N để chủ động liên hệ, kết nối với tài khoản Zalo tên Quốc T2 đăng ký số điện thoại 0972.345.xxx của anh Lương Văn T1, sinh năm 1984, trú tại khối B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An là chủ cửa hàng điện máy “T” địa chỉ tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quá trình trao đổi, Nguyễn Thị N giới thiệu bản thân là nhà phân phối, chuyên cung cấp các loại máy lọc nước Kangaroo ở Hà Nội, đồng thời gửi các hình ảnh đính kèm mã sản phẩm máy lọc nước Kangaroo trên mạng xã hội để giới thiệu, tư vấn cho anh T1. Sau khi trao đổi nhiều lần với N, ngày 08/5/2024, anh T1 đồng ý đặt mua 20 (Hai mươi) máy lọc nước nhãn hiệu Kangaroo với tổng số tiền là 77.800.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu tám trăm nghìn đồng). Sau khi anh Lương Văn T1 đồng ý mua thì Nguyễn Thị N yêu cầu Lương Văn T1 chuyển tiền vào số tài khoản 1037896695, Ngân hàng V, tên tài khoản "Pham Thi X1" (đây là tài khoản của một người Nhật không quen biết, trước đây N thường liên hệ để khách hàng chuyển tiền mua hàng vào; người này sẽ nhận tiền, trừ phí và gửi lại tiền cho N; đồng thời thực hiện việc xuất, bán hóa đơn bán hàng cho khách hàng nếu khách hàng có yêu cầu). Để tạo sự tin tưởng cho anh T1, N tải hình ảnh giả mạo về việc nhân viên đã chuyển 20 máy lọc nước theo đơn hàng của anh Lương Văn T1 đưa lên xe và chuẩn bị giao gửi theo địa chỉ anh T1 cung cấp. Sau khi nhìn thấy hình ảnh chụp anh T1 tin tưởng và chuyển số tiền cọc là 52.800.000 đồng (Năm mươi hai triệu tám trăm nghìn đồng) vào số tài khoản N gửi trước đó. Sau khi nhận được hình ảnh chuyển khoản do anh T1 gửi, N lấy lý do Công ty yêu cầu thanh toán 100% số tiền hàng, yêu cầu anh T1 chuyển tiếp số tiền còn thiếu của đơn hàng thì anh T1 đồng ý và chuyển tiếp số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Sau khi nhận đủ tiền, N đã gửi cho anh Lương Văn T1 số điện thoại 0876.925.xxx, đăng ký tài khoản Zalo tên Minh N2 và nói đây là số điện thoại của nhà xe vận chuyển đơn hàng để anh T1 liên hệ nhận hàng. Sau đó, Lương Văn T1 sử dụng tài khoản Zalo đăng ký số điện thoại 0972.345.xxx của mình để liên lạc đến tài khoản Z tên Mình N2 đăng ký bằng số điện thoại 0876.925.xxx do Nguyễn Thị N quản lý, sử dụng thì Nguyễn Thị N nói đơn hàng của cửa hàng T4 đã lên xe rồi, đang trên đường giao. Đối với số tiền do anh Lương Văn T1 chuyển, Nguyễn Thị N nhắn tin qua T3 báo cho người này chuyển tiền vào tài khoản của N. Sau khi trừ phí, người này chuyển lại số tiền 43.353.666 đồng (Bốn mươi ba triệu ba trăm năm mươi ba nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) vào số tài khoản 5102757451, Ngân hàng B; số tiền 34.141.666 đồng (Ba mươi tư triệu một trăm bốn mươi mốt nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng) vào số tài khoản 1045321153, Ngân hàng V mang tên Nguyễn Thị N. Sau khi nhận được tiền, N xóa và chặn liên lạc với anh Lương Văn T1, chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên, đồng thời xóa tài khoản T3 đã liên hệ với người đã nhận và chuyển tiền lại cho N.
Đến ngày 09/5/2024, do không nhận được hàng đúng thời gian như hai bên đã thỏa thuận, anh Lương Văn T1 đã nhiều lần gọi điện thoại cho Nguyễn Thị N nhưng không liên lạc được. Ngày 29/7/2024, Lương Văn T1 đã làm đơn đến Công an huyện D, tỉnh Nghệ An trình báo.
Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ngày 29/7/2024, Nguyễn Thị N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Tại bản Cáo trạng số: 199/CT-VKS-DC ngày 06/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu truy tố bị cáo Nguyễn Thị N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị N thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng, cam đoan sẽ không bao giờ tái phạm và đã nhận thức được tính nghiêm trọng của hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị N thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, điểm n, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N từ 24 tháng đến 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lương Văn T1 đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt 77.800.000 đồng và không yêu cầu gì về dân sự, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số máy MG9E3LL/A, bên trong gắn sim số 0705280574, đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Thị N.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Thị N không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo; bị hại; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.
[2]. Về việc vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa cho họ; mặt khác lời khai của họ đã đầy đủ tại hồ sơ, người bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì; người có quyền lợi nghĩa vụ vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3]. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi thực hiện của mình phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung của Cáo trạng đã quy kết, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bằng thủ đoạn gian dối, ngày 08/5/2024, Nguyễn Thị N sử dụng tài khoản có tên Phạm X, đăng ký số điện thoại 0835.352.xxx (sim không chính chủ) liên hệ với tài khoản Zalo tên Quốc T2 đăng ký số điện thoại 0972.345.xxx của anh Lương Văn T1, sinh năm 1984, trú tại khối B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An giới thiệu mình là nhân viên phân phối, chuyên cung cấp các loại máy lọc nước Kangaroo ở Hà Nội. Tiếp đó, N sử dụng các hình ảnh máy lọc nước trên mạng xã hội gửi cho anh T1, tư vấn và báo giá cho anh T1. Bằng phương thức trên khiến anh T1 tin tưởng đồng ý mua 20 (Hai mươi) máy lọc nước Kangaroo với giá 77.800.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu tám trăm nghìn đồng). Để anh T1 tin tưởng, chuyển tiền cho N, N đã dùng thủ đoạn “Gửi cho anh Lương Văn T1 số điện thoại 0876.925.xxx, đăng ký tài khoản Zalo tên Minh N2 và nói đây là số điện thoại của nhà xe vận chuyển đơn hàng để anh T1 liên hệ nhận hàng, từ đó anh T1 sử dụng tài khoản Zalo đăng ký số điện thoại 0972.345.xxx của mình để liên lạc đến tài khoản Z tên Minh N2, đăng ký bằng số điện thoại 0876.925.xxx do Nguyễn Thị N quản lý, sử dụng thì Nguyễn Thị N nói đơn hàng của cửa hàng T4 đã lên xe rồi, đang trên đường giao”, anh T1 tin tưởng nên đã chuyển khoản 02 lần với tổng số tiền 77.800.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu tám trăm nghìn đồng) theo số tài khoản mà N gửi cho anh T1. Sau khi nhận được số tiền 77.800.000 đồng (Bảy mươi bảy triệu tám trăm nghìn đồng) của anh T1, N xóa liên lạc với anh Lương Văn T1, chiếm đoạt toàn bộ số tiền trên mà anh T1 chuyển cho N. Như vậy, hành vi thực hiện của bị cáo Nguyễn Thị N đã đủ yêu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt là “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4]. Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo:
Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn. Hành vi thực hiện “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn nói riêng và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội nói chung, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội; đồng thời là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi, đủ tuổi chịu tránh nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo nhận thức rõ hành vi thực hiện của mình là vi phạm pháp luật, không tu chí làm ăn lương thiện mà lại thực hiện hành vi lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người khác, điều đó thể hiện sự coi thường kỷ cương pháp luật. Vì vậy, cần phải lên một mức án nghiêm, tương xứng với hành vi thực hiện phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[5]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, biết ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi thực hiện của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến Cơ quan điều tra Công an huyện D để đầu thú, trả lại toàn bộ số tiền chiếm đoạt cho bị hại, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đang có thai, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm n, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, còn phải nuôi con nhỏ, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, chưa cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự để quyết định cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa; đồng thời tạo điều kiện để bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ nghiêm.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; biên bản xác minh điều kiện kinh tế đối với bị cáo và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thì bị cáo làm công việc tự do, thu nhập không ổn định còn phải nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lương Văn T1 đã được bị cáo trả lại đầy đủ số tiền chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về nội dung liên quan khác: Đối với chị Phạm Thị X, sinh năm 1974, trú tại xóm L, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An là người có tài khoản ngân hàng được anh Lương Văn T1 chuyển tiền. Tuy nhiên, Phạm Thị X không quen biết Nguyễn Thị N; khẳng định không đăng ký hay sử dụng bất kỳ tài khoản ngân hàng nào của Ngân hàng V. Việc có người đăng ký, sử dụng tài khoản bằng tên của chị, chị không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D tiếp tục, xác minh xử lý sau.
[9]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số máy MG9E3LL/A, bên trong có gắn sim số 0705280574 đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N, bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi “Lừa đảo chiếm đoạn tài sản” của anh T1, đây là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước
[10]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, điểm n, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
- - Điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/02/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Thị N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo, thông báo kết quả chấp hành án của bị cáo với Ủy ban nhân dân xã (phường) khi có yêu cầu. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, số máy MG9E3LL/A, bên trong có gắn sim số 0705280574, tình trạng đã qua sử dụng, thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị N.
Vật chứng hiện đang lưu tại Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu và phiếu nhập kho ngày 08/11/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu.
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thanh Minh |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
