TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 31/2025/HS-ST. Ngày: 21-02-2025. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc Tình.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp.
Ông Lâm Ngọc Trao.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Tứ – Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 21/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
Nguyễn Thị Thu N; sinh năm 2000 tại tỉnh An Giang, tên gọi khác: Mun. Nơi đăng ký thường trú: ấp H, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Ú và bà Trương Thị T; Gia đình có 05 chị em, bị cáo là con thứ 3, có chồng tên Võ Hoài M, có 01 con sinh năm: 2017; Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị bắt từ ngày 05/10/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
Nguyễn Thanh K; sinh năm 1997 tại tỉnh Kiên Giang. Nơi đăng ký thường trú: Ấp K, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N1 và bà Huỳnh Thị Bé S; Gia đình có 03 anh chị, bị cáo là con thứ 3, có vợ tên Nguyễn Thị K1 và có 01 con sinh năm: 2018; Tiền án: không; Tiền sự: không.
Bị bắt từ ngày 05/10/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 50 phút ngày 05/10/2024, Nguyễn Thị Thu N gọi điện thoại người tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua ma túy thì T1 đồng ý. Sau đó, N gọi điện thoại đến cho Nguyễn Thanh K nói K đến phòng trọ của N lấy tiền mua ma túy. Đến 13 giờ 30 phút, K thuê xe ôm đi đến gần Tòa nhà P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai gặp T1 mua 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng. Sau khi nhận được ma túy (loại Methamphetamine) T1 đem về nhà trọ của N thuộc ấp T, xã P, huyện N giao cho N để N phân chia ma tuý thành từng gói nhỏ, bán lại cho những người nghiện. Đến 18 giờ cùng ngày, N2 (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại cho K hỏi mua 700.000 đồng ma túy và hẹn địa điểm giao ma túy, N đưa cho K 01 ống hút dài 5,5cm bên trong có chứa ma túy (loại Methamphetamine) để đi bán cho N2. Đến 18 giờ 30 phút cùng ngày, K đi đến khu phố P, thị trấn H, huyện N để bán ma túy thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện N phối hợp với Công an thị trấn H trên đường tuần tra, kiểm tra, phát hiện bắt quả tang cùng với tang vật.
Đến 21 giờ ngày 05/10/2024, N biết K bị Cơ quan Công an bắt quả tang trong khi đi bán ma túy cho N nên N đã đến Công an thị trấn H đầu thú và giao nộp 02 ống hút nhựa dài 3cm và 01 gói nylon màu trắng, kích thước 4cm x 5cm bên trong có chứa ma túy (loại Methamphetamine).
Vật chứng thu giữ: 01 đoạn ống hút nhựa, hàn kín hai dầu có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, dài 5,5 cm (đã được niêm phong); 02 đoạn ống hút nhựa, hàn kín hai dầu có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, dài 3 cm (đã được niêm phong); 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa các hạt tinh thể rắn màu trắng, kích thước 4 cm x 5 cm (Đã được niêm phong); 01 điện thoại di động hiệu Samsung A03; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen; 05 ống hút nhựa dài 20cm, bên trong rỗng; 01 đoạn ống hút dài 4cm, một đầu được cắt nhọn bên trong rỗng; 01 hộp quẹt gas; 01 cây kéo sắt.
Tại kết luận giám định số 1996/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ kết luận:
Mẫu chất thể rắn màu trắng (ký hiệu M) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,5067 gam, loại Methamphetamine.
Mẫu chất thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,8519 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 39/CT-VKSNT ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn Thanh K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017),
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
+ Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ lượng ma túy còn lại sau giám định (được niêm phong số 1996/KL-KTHS của Phòng K2 Công an tỉnh Đ); 05 ống hút nhựa dài 20cm, bên trong rỗng; 01 đoạn ống hút dài 4cm, bên trong rỗng; 01 hộp quẹt gas; 01 cây kéo sắt.
- Tịch thu sung công quỹ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung A03 và 01 điện thoại di động hiệu S1 màu đen là phương tiện mà Nguyễn Thanh K, Nguyễn Thị Thu N sử dụng vào việc phạm tội.
Tại phiên Tòa các bị cáo không phát biểu tranh luận. Các bị cáo nói lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, các tài liệu, chứng cứ được thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi cũng như quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu đã thu thập được tại hồ sơ vụ án, thể hiện:
Để có tiền phục vụ bản thân và nhằm thu lợi bất chính. Vào lúc 18 giờ 30 phút ngày 05/10/2024, tại phòng trọ do Nguyễn Thị Thu N thuê tại ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị Thu N và Nguyễn Thanh K đã thực hiện hành vi mua bán ma túy có khối lượng 1,3586 gam loại Methamphetamine để về bán lại cho những người nghiện. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn Thanh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi, nhận thức rõ việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự. Tuy nhiên, do bản thân nghiện ma túy và để có tiền phục vụ bản thân nên các bị cáo bất chấp phát luật, thực hiện hành vi phạm tội như nêu trên.
Hành vi của các bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tình hình trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân, gây thiệt hại đến sức khỏe và sự phát triển bình thường của con người, là mầm mống có thể gây ra những tệ nạn khác cho cộng đồng và xã hội. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo mức án nghiêm tương xứng với hành vi mà các bị cáo đã gây ra nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
Trong vụ án này, bị cáo N là người có vai trò chính là người liên hệ mua ma túy, đưa tiền cho K đi lấy ma túy, là người phân chia ma túy. Bị cáo K là người giúp sức cho bị cáo N đi lấy ma túy và giao ma túy cho các con nghiện để kiếm lời.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Thị Thu N, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện ra đầu thú đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự khi lượng hình.
[6] Về biện pháp tư pháp:
Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa ma túy sau giám định đã niêm phong số 1996 ngày 10/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, 05 ống hút nhựa dài 20cm, bên trong rỗng; 01 đoạn ống hút dài 4cm, bên trong rỗng; 01 hộp quẹt gas; 01 cây kéo sắt là công cụ, vật chứng sử dụng vào việc phạm tội.
Cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung A03 và 01 điện thoại di động hiệu S1 màu đen là phương tiện mà Nguyễn Thanh K, Nguyễn Thị Thu N sử dụng vào việc phạm tội.
[7] Đối với người tên T1 đã có hành vi bán ma túy cho N và K hiện chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.
Đối với người tên N2 đã có hành vi mua ma túy của N và K hiện chưa rõ nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn Thanh K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu N 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2024.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh K 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2024.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa ma túy sau giám định đã niêm phong số 1996 ngày 10/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, 05 (năm) ống hút nhựa dài 20cm, bên trong rỗng; 01 (một) đoạn ống hút dài 4cm, bên trong rỗng; 01 (một) hộp quẹt gas; 01 (một) cây kéo sắt.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A03 và 01 (một) điện thoại di động hiệu S1 màu đen.
(Vật chứng này hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nhơn Trạch theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/01/2025).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn Thanh K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Thị Thu N, Nguyễn Thanh K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Tình |
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyên và bị cáo Kha mua bán trái phép chất ma túy
