|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2025/DS-PT
Ngày: 20-02-2025
V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;
Các thẩm phán: bà Triệu Thị Luyện và ông Nguyễn Việt Hùng;
Thư ký phiên toà: ông Hoàng Đình Sắc – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 20 tháng 01 năm 2025 và 20 tháng 02 năm 2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 240/2024/TLPT-DS ngày 12/11/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 300/2024/QĐ-PT ngày 09/12/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 452/2024/QĐ-PT ngày 20/12/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 18/2025/QĐ-PT ngày 20/01/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Ngô Thị C, sinh năm 1954 (có mặt);
Địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Ngô Thị C: ông Nguyễn Đức T (có mặt) và bà Thân Thúy V (xin vắng mặt) - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.
Đồng bị đơn:
- Cụ Nguyễn Tài Đ, sinh năm 1941 (đã chết này 17/01/2025);
- Cụ Ngô Thị X (tên gọi khác: Nguyễn Thị X1), sinh năm 1940 (xin vắng mặt);
Đều địa chỉ: tổ dân phố () Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Người kết thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Đ:
- Cụ Ngô Thị X (tên gọi khác: Nguyễn Thị X1), sinh năm 1940 (xin vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963 (có mặt);
- Ông Nguyễn Trí K, sinh năm 1970 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967 (có mặt);
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1976 (xin vắng mặt);
Đều địa chỉ: TDP Đ, phường Q, thị xã V.
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1974 (có mặt);
Đều có địa chỉ: TDP C, phường Q, thị xã V.
- Ông Nguyễn Tài T2, sinh năm 1961 (có mặt);
Địa chỉ: số H P, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Ngô Minh H, sinh năm 1976 (có mặt);
- Anh Ngô Đức Đ1, sinh năm 1982 (có mặt);
Cùng địa chỉ: TDP Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Ngô Thị H1, sinh năm 1979 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: đường số C, khu phố B, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh;
- Chị Ngô Thị Kim L, sinh năm 1984 (có mặt);
Địa chỉ: thôn K, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện theo ủy quyền của chị H, anh Đ1, chị H1, chị L: bà Ngô Thị C, sinh năm 1954 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963 (có mặt);
- Ông Nguyễn Trí K, sinh năm 1970 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967 (có mặt);
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1976 (xin vắng mặt);
Đều địa chỉ: TDP Đ, phường Q, thị xã V.
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1974 (có mặt);
Có mặt Địa chỉ: TDP C, phường Q, thị xã V.
- Ông Nguyễn Tài T2, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số H P, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Ủy ban nhân dân (UBND) phường Q, thị xã V do ông Nguyễn Tài H2 - Chủ tịch UBND phường Q, thị xã V đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
- UBND thị xã V, tỉnh Bắc Giang do bà Thân Thị L1 - Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã V đại điện theo uỷ quyền (vắng mặt).
Người kháng cáo: bà Ngô Thị C là nguyên đơn trong vụ án
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền Nguyên đơn trình bày: gia đình bà Ngô Thị C đang quản lý và sử dụng thửa đất số 354, tờ bản đồ số 06, diện tích 1.364,5m² mang tên chủ sử dụng Ngô Đức H3 và Ngô Thị C. Gia đình bà C đã sử dụng ổn định từ năm 1960 đến nay và thực hiện đóng thuế với nhà nước đầy đủ. Do quá trình quản lý sử dụng trồng lúa không hiệu quả, năm 2000 gia đình bà C chuyển sang đào ao thả cá. Để thuận tiện cho việc nuôi trồng theo mô hình VAC. Vì vậy gia đình bà C có bớt lại khoảng 30m² diện tích giáp với thửa đất số 323 mang tên chủ sử dụng hộ ông Nguyễn Tài Đ và Ngô Thị X, trên phần đất này bà C có trồng 02 bụi tre để làm mốc giới với đất của gia đình ông Đ.
Tuy nhiên, đến nay ông Đại tự Ý chặt chuối và tre của gia đình bà để xây dựng tường bao. Bà C đã ra ngăn chặn, vì vậy hai bên xảy ra tranh chấp, UBND xã Q đã tổ chức hòa giải cho hai gia đình. Tại buổi hòa giải lần 2 bà C mới được biết hộ gia đình ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với thửa đất số 323 có diện tích 452,9 m², trong đó có khoảng 90m² đất lấn sang phần đất nhà bà C.
Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Tài Đ và bà Ngô Thị X gia đình bà C không hề được biết cũng như thông báo về việc đo đạc mốc giới giáp ranh giữa hai nhà, dẫn đến việc đo đạc sai diện tích thửa đất của gia đình bà C so với tờ bản đồ giải thửa do Trung tâm công nghệ thông tin cung cấp.
Ngoài ra trong biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất số 323 thể hiện có xác nhận của các chủ sử dụng đất liền kề (trong đó ông Ngô Đức H3-chồng bà C). Tuy nhiên bà khẳng định ông H3 không ký xác nhận này. Bà C cho rằng việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đ và bà N1 là không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà C.
Theo Thông tư 346/1998 quy định “Sau khi Hội đồng đăng ký đất đai có kết luận, UBND xã, phường tổ chức công bố công khai kết quả đã xét để mọi người dân được tham gia ý kiến. Thời gian công bố công khai là 15 ngày. Tuy nhiên UBND xã Q cũng không thực hiện việc công bố công khai. Vì vậy đến nay bà C mới được biết việc cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông Đ lấn sang thửa đất của mình làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà C. Nay yêu cầu cụ Đ phải trả lại toàn bộ phần đất lấm chiếm khoảng 90m² có giá 4.050.000 đồng (đo thực tế là 128,8m² có giá trị 5.796.000 đồng).
Khi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ là do bà C đứng ra làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với 03 thửa như trong đơn đã trình bày, tuy nhiên UBND huyện V (nay là thị xã V) chỉ cấp cho bà C 01 sổ đối với thửa đất số 353 có diện tích 523,6m² còn lại 02 thửa 354, 355 chưa được cấp GCNQSDĐ. Theo đơn đề nghị cấp diện tích thửa 354 là 1.364,5 m² đất ao, hiện tại đo thực tế là 1.592,7m².
Bị đơn - cụ Nguyễn Tài Đ, cụ Ngô Thị X trình bày: Gia đình các cụ sử dụng diện tích đất ao từ năm 1958 đến nay, nguồn gốc đất ao là do các cụ để lại và không có tranh chấp. Năm 2004, UBND huyện V (nay là thị xã V) có chủ trương cấp giấy chứng nhận cho các hộ gia đình tại thôn Đ, xã Q trong đó có gia đình các cụ. Khi đó cụ Đ là người đứng ra làm đơn, còn việc ký các văn bản giấy tờ là do thôn và xã làm. Ngày 10/4/2005 gia đình cụ đã được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ số AB 718986, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H03904 ngày 10/4/2005 mang tên hộ ông Đ và bà X gồm 02 thửa đất số 319 và 323; tờ bản đồ số 6; địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang; diện tích 759,1m²; mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; thời gian sử dụng: Lâu dài. Nay cụ Đ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà T1, ông K, bà N, bà M, bà Q, ông T2 đều trình bày: các ông, bà là con cụ Đ và cụ X, hiện nay bà C kiện cụ Đ và cụ X về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Toàn bộ diện tích đất của của cụ Đ và cụ X hiện đang sử dụng có nguồn gốc là do các cụ để lại. Ngày 10/4/2005, UBND huyện V đã cấp GCNQSDĐ vào sổ số H03904 mang tên hộ ông Đ và bà X, diện tích là 452,9 m². Từ khi được cấp GCNQSDĐ cho đến nay không có ai tranh chấp hoặc khiếu kiện gì. Căn cứ kết quả đo vẽ thẩm định thì hiện tại đất của cụ Đ và cụ X thiếu 3,4m² so với GCNQSDĐ đã được cấp (449,5/452,9). Vì vậy, bà T1, ông K, bà N, bà M, bà Q, ông T2 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị C đối với cụ Đ và cụ X.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND thị xã V trình bày: thửa đất số 319 và 323 cùng tờ bản đồ 06, địa chỉ thôn Đ, xã Q (nay là TDP Đ, phường Q). Hai thửa đất này đã được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp GCNQSDĐ ngày 10/4/2005 mang tên hộ ông Nguyễn Tài Đ và bà Ngô Thị X; trong đó thửa 319 có diện tích 306,2 m² đất ở; thửa 323 có diện tích 452,9m² đất ao (tổng diện tích 02 thửa là 759,1 m²); số vào sổ H03904, số phát hành AB 718986.
Kiểm tra hồ sơ cấp GCNQSDĐ thấy có một số nội dung chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ như: Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất không ghi ngày, tháng năm, không ghi ý kiến của UBND xã, không có ý kiến và xác nhận của Cơ quan địa chính (Phòng địa chính nông nghiệp). Tuy nhiên việc thiếu sót nêu trên không làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất hộ ông Đ đối với hai thửa đất nêu trên. Quá trình lập và hoàn thiện hồ sơ cấp GCNQSDĐ, Hội đồng đăng ký đất đai xã Q có tổ chức xét duyệt hồ sơ, UBND xã Q niêm yết công khai tại địa phương, quá trình công khai UBND xã Q không nhận được ý kiến, đơn khiếu nại gì liên quan việc lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hai thửa nêu trên. Ngoài ra kiểm tra GCNQSDĐ đã ký cấp thấy có một số nội dung in trên GCNQSDĐ không đúng hồ sơ: không in nguồn gốc sử dụng đất, không in đầy đủ diện tích từng thửa, in thiếu mục đích sử dụng thửa đất ao (thửa 323). Đối với việc bà C đề nghị hủy GCNQSDĐ đã cấp cho hộ cụ Đ đề nghị TAND thị xã giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND phường N, thị xã V: qua kiểm tra xem xét tại kho lưu trữ UBND phường Q không lưu giữ được hồ sơ cấp GCNQSDĐ của hộ gia đình ông Nguyễn Tài Đ và hộ gia đình bà Ngô Thị C. Do vậy UBND phường không có căn cứ trả lời việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đ và hộ bà C đúng hay sai.
Với nội nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên đã căn cứ các Điều 166, 175, 176 - Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị C về việc yêu cầu cụ Nguyễn Tài Đ và cụ Ngô Thị X trả lại diện tích đất lấn chiếm 128,8m² đối với thửa đất số 323, tờ bản đồ 06, địa chỉ thôn Đ, xã Q (nay là TDP Đ, phường Q) đã được cấp GCNQSDĐ số vào sổ H03904, số phát hành AB 718986 ngày 10/4/2005 mang tên hộ ông Nguyễn Tài Đ và bà Ngô Thị Xạ .
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/9/2024, bà Ngô Thị C kháng cáo bản án, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trợ giúp viên pháp lý T bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà C trình bày quan điểm tranh luận: nguồn gốc đất tranh chấp 128,8m2 nằm trong diện tích 1592,7m2 đất ao mà gia đình bà C được giao chưa được cấp GCNQSDĐ và gia đình bà C đã để lại làm bờ ao chiều rộng khoảng 5m và đã trồng 2 bụi tre. Năm 2014 đã xẩy ra tranh chấp do ông Đ chặt tre, được thôn giải quyết nhưng không có biên bản. Sau này khi hoà giải tranh chấp đất đai lần 2 bà C mới biết được gia đình ông Đ đã được cấp GCNQSDĐ năm 2005 đối với diện tích 452,9m2 tại thửa 323 trong đó có cả 128,8m2 đất của gia đình bà C. Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Đ như trên là không đúng pháp luật, chữ ký giáp danh không phải chữ ký của chồng bà. Đề nghị HĐXX xem xét, chấp nhận kháng cáo của bà C, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu yêu cầu khởi kiện của bà C.
Bà C bổ sung không đồng ý nguồn gốc đất như bị đơn trình bày, mà chỉ thực tế sử dụng đất từ năm 1980 do ông T3 cho. Bà đồng ý với quan điểm của ông T.
Ông K tranh luận không đồng ý với toàn bộ ý kiến của phía bà C vì không có căn cứ.
Bà T1 tranh luận không đồng ý với toàn bộ ý kiến của phía bà C, đất này do các cụ để lại cho bố mẹ bà từ nhỏ đã thấy bố mẹ bà sử dụng, bà C về làm dâu sau không nắm được nguồn gốc đất giữa hai gia đình như thế nào.
Bà N nhất trí ý kiến của bà T1, không tranh luận gì.
Ông T2 nhất trí ý kiến của bà T1, ông K không tranh luận gì.
Bà Q tranh luận diện tích đất tranh chấp do bố mẹ bà được các cụ cho, quản lý sử dụng đến nay không có tranh chấp với cho đến khi bà C khởi kiện, bố mẹ chồng và chồng bà C không có ý kiến tranh chấp gì, mẹ bà vẫn sử dụng đến nay. Vì vậy không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà C.
Chị L tranh luận, diện tích đất của gia đình ông Đ được cấp GCNQSDĐ không đúng, chữ ký của các hộ giáp danh không đúng, những người này không ký. Trước đây gia đình bà trồng tre và chuối gia đình ông Đ không ý kiến gì đến năm 2014 mới đến chặt tre của gia đình bà.
Anh Đ1 đồng ý trình bày của chị L, yêu cầu huỷ GCNQSDĐ đã cấp cho gia đình ông Đ vì trái pháp luật.
Chị H đồng ý tranh luận của anh Đ1.
Các đương sự giữ nguyên quan điểm, không ai tranh luận gì thêm.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của BLTTDS do vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị C, giữ nguyên bản án sơ thẩm, bà Ngô Thị C được miễn án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: trong quá trình xét xử phúc thẩm, bị đơn là cụ Đ chết, Toà án đã đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng vào tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 74 của BLTTDS và khoản 1 Điều 651 của BLDS; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 296 của BLTTDS.
Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn, HĐXX thấy:
[2] Bà Ngô Thị C yêu cầu cụ Nguyễn Tài Đ và cụ Ngô Thị X trả lại diện tích đất lấn chiếm đo thực tế theo bà C chỉ mốc giới là 128,8m², đối với thửa đất số 354 của gia đình bà C, có nguồn gốc do các cụ để lại, thửa đất tranh chấp hiện chưa được nhà nước cấp GCNQSDĐ có diện tích 1.364,5m². Năm 2001 bà C làm đơn đăng ký quyền sử dụng đất đối với 03 thửa gồm: thửa số 353 có diện tích 523,6m² đất ao; thửa 354 có diện tích 1364,5m² đất ao; thửa số 355 có diện tích 360m² đất ở và 244,6 m² đất vườn cùng tờ bản đồ 06 đề nghị UBND huyện V cấp GCNQSDĐ. Sau khi làm đơn đăng ký quyền sử dụng đất gia đình bà C đã được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp GCNQSDĐ đối với thửa số 353 có diện tích 523,6 m². Đối với 02 thửa còn lại chưa được cấp GCNQSDĐ vì lý do gì thì bà C không biết.
[3] Cụ Đ và cụ X không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C và cho rằng diện tích đất bà C yêu cầu cụ Đ phải trả lại do lấn chiếm là không có căn cứ, nguồn gốc đất là do cha ông cụ kỵ để lại phần đất cụ Đ được sử dụng trước đây cụ đã xây tường để phân định ranh giới với đất ao của bà C. Ngày 10/4/2005, UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp giấy chứng nhận cho gia đình cụ gồm 02 thửa (319 và 323) trong cùng 01 giấy chứng nhận với tổng diện tích là 759,1m². Trong đó thửa đất số 319 có diện tích là 306,2m2, thửa 323 có diện tích 452,9m². Quá trình giải quyết vụ án bà C không cung cấp được các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà C khai và cho rằng đất ao đang tranh chấp với cụ Đ nguồn gốc là do các cụ để lại.
[4] Căn cứ kết quả thẩm định đo đạc 02 lần cho thấy diện tích của gia đình bà C tại thửa 354 (thửa đang tranh chấp) đều tăng so với diện tích ban đầu theo lời khai của bà C cũng như hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của bà C (đo vẽ lần 1 có kết quả 1591,7m2/1364,5m², lần 2 là 1592,7m²/1364,5m²). Diện tích đất của gia đình cụ Đ bị thiếu diện tích so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đo vẽ lần 1 có kết quả 435,3m²/542,9m², lần 2 là 449,5m²/542,9m²). Theo ý kiến trình bày của UBND thị xã V: thửa đất số 319 và 323 cùng tờ bản đồ 06, địa chỉ thôn Đ, xã Q (nay là TDP Đ, phường Q). Hai thửa đất này đã được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp GCNQSDĐ ngày 10/4/2005 mang tên hộ ông Đ và bà X; trong đó thửa 319 có diện tích 306,2 m² đất ở; thửa 323 có diện tích 452,9m² đất ao (tổng diện tích 02 thửa là 759,1 m²); số vào sổ H03904, số phát hành AB 718986. Hồ sơ cấp GCNQSDĐ có một số nội dung chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ như: Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất không ghi ngày, tháng năm, không ghi ý kiến của UBND xã, không có ý kiến và xác nhận của Cơ quan địa chính (Phòng địa chính nông nghiệp). Tuy nhiên, việc thiếu sót nêu trên không làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất hộ ông Đ đối với hai thửa đất nêu trên. Quá trình lập và hoàn thiện hồ sơ cấp GCNQSDĐ, Hội đồng đăng ký đất đai xã Q có tổ chức xét duyệt hồ sơ, UBND xã Q niêm yết công khai tại địa phương, quá trình công khai UBND xã Q không nhận được ý kiến, đơn khiếu nại gì liên quan việc lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hai thửa nêu trên.
[5] Bà Ngô Thị C không cung cấp được tài liệu chứng minh việc cụ Đ, cụ X lấn chiếm đất, mặt khác đất thửa đất số 354 của gia đình bà C chưa được cấp GCNQSDĐ, hơn nữa diện tích đất của bà C hiện tăng lên so với diện tích trong đơn đăng ký quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa sơ thẩm bà C trình bày năm 2014 Nhà nước tiến hành đắp đất mở rộng hành lang đê cũng có lấn chiếm một phần vào diện tích đất ao của gia đình bà (thửa 354) diện tích cụ thể bao nhiêu bà không nắm được và bà cũng không có ý kiến gì. Đối với thửa đất 323 của cụ Đ và cụ X, sau khi xem xét thẩm định và đo vẽ lần 2 có bị thiếu diện tích 3,4m² so với GCNQSDĐ, cụ Đ cho rằng diện tích thiếu này là do khi xây tường ao gia đình có bớt lại 10cm. Nay cụ Đ không có ý kiến gì. Việc Toà án cấp sơ thẩm không chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[6] Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì khác có giá trị chứng minh cho yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. HĐXX thấy cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên toà.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của bà Ngô Thị C không được chấp nhận nên bà C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên bà C là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị C, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Ngô Thị C được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 31/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 31/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
