Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày 23 - 01 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Kăn Niê.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Dũng, bà Phạm Thị Tuyết Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thảo – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 23/01/2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS, ngày 03 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS, ngày 10/01/2025, đối với bị cáo:

* Họ và tên: Trần Quốc Đ (Tên gọi khác: Đ1) – Sinh ngày 17/01/1990, tại tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú: Số A P, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần X, sinh năm 1961 và con bà Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1965; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: 03 tiền án.

  • + Tại bản án số: 127/2012/HSST, ngày 25 tháng 4 năm 2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 22 tháng 01 năm 2014, bị cáo chấp hành xong án phạt tù và chưa được xóa án tích.
  • + Tại bản án số: 308/2015/HSST, ngày 30 tháng 9 năm 2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm tù giam về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt 03 năm 03 tháng tù giam. Ngày 17 tháng 12 năm 2015, Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt đối với bản án sơ thẩm tại bản án số: 522/2015/HSPT. Ngày 01 tháng 10 năm 2018, bị cáo chấp hành xong án phạt tù và chưa được xóa án tích.
  • + Tại bản án số: 179/2019/HSST, ngày 16 tháng 7 năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt 07 năm tù. Ngày 30 tháng 01 năm 2024, bị cáo chấp hành xong án phạt tù và chưa được xóa án tích.

Ngày 10/10/2024, bị cáo bị bắt phạm tội quả tang, bị tạm giữ từ ngày 11/10/2024 đến ngày 16/10/2024 chuyển tạm giam cho đến nay (Có mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • 1/ Bà Phan Thị Mỹ D, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số G N, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  • 2/ Ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số E N, phường G, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  • 3/ Ông Huỳnh Dương B, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số B X, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  • 4/ Bà Vũ Thị Thu H, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số B X, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

* Người chứng kiến:

  • 1/ Bà Đỗ Thị X1, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  • 2/ Ông Lê Ngọc C, sinh năm 1955. Địa chỉ: Tổ dân phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Quốc Đ là người sử dụng ma túy loại Methamphetamine (hay còn gọi là ma túy đá) và phạm tội trong trường hợp tái phạm nguy hiểm, chưa được xóa án tích. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 07 tháng 10 năm 2024, Đ một mình đi bộ đến khu vực nghĩa trang cũ đường P thuộc tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk gặp người nam giới tên “Cu A” (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) ma túy đá, “Cu Anh” đồng ý bán. Đ đưa số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) cho “Cu Anh”, “Cu A” lấy từ trong người ra một gói ma túy đá bán cho Đ, Đ kiểm tra đúng ma túy đá, cất trong người với mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 02 giờ 48 phút, ngày 10 tháng 10 năm 2024, có người nữ giới sử dụng tài khoản Zalo “Vân Al” liên lạc với Đ qua tài khoản Zalo “Nerver” hỏi mua 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) ma túy đá, Đ đồng ý bán và hẹn gặp tại khu vực cuối đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk rồi Đ lấy gói ma túy chia nhỏ thành một gói, số ma túy còn lại Đ cất trong người đi bộ đến điểm hẹn bán cho người nữ giới sử dụng tài khoản Zalo “Vân Al” một gói ma túy đá, thu lợi bất chính số tiền 500.000 đồng(năm trăm nghìn đồng). Sáng ngày 10 tháng 10 năm 2024, Đ cất số ma túy đá trong người, đi bộ đến nhà ông Huỳnh Dương B, sinh năm 1991 và bà Vũ Thị Thu H, sinh năm 2001, đều trú tại: 2 X, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk chơi thì được ông B dẫn vào phòng ngủ thứ hai của căn nhà nghỉ. Ông B, bà H đi công việc. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, ông B, bà H về thì thấy đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố B và Công an phường T, thành phố B đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang Đ có hành vi cất giấu một gói nylon bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng dưới nệm trên sàn nhà của phòng ngủ thứ hai, Đ khai nhận là ma túy đá cất với mục đích bán. Lực lượng Công an tiến hành niêm phong gói ma túy đá theo quy định của pháp luật.

- Đồ vật, tài liệu bị tạm giữ:

  • + 01 điện thoại di động kiểu dáng Sam sung màu đen bị vỡ màn hình, số Imei: 3535151333221809 gắn sim số 0903.590.253;
  • + 01 cân điện tử.

Tại bản Kết luận giám định số 1671/KL-KTHS ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng bên trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 8,1285 gam, loại: Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 7,9821 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKSTP-BMT, ngày 02/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố Trần Quốc Đ về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và nội dung bản Cáo trạng.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Quốc Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy":

  • - Áp dụng điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Trần Quốc Đ mức hình phạt từ 10 (mười) năm đến 11 (mười một) năm tù.
  • - Về xử lý vật chứng, đề nghị:
  • + Tịch thu, tiêu hủy đối với 7,9821 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 1671/KL-KTHS ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ và 01 cân điện tử là tang vật của vụ án.
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động kiểu dáng Sam sung màu đen bị vỡ màn hình, số Imei: 3535151333221809 gắn sim số 0903.590.253 là công cụ bị cáo Trần Quốc Đ sử dụng vào việc phạm tội.
  • + Truy thu bị cáo Trần Quốc Đ số tiền 500.000 đồng bị cáo thu lợi bất chính từ việc phạm tội.

Bị cáo không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Quốc Đ tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 12 giờ 00 phút ngày 10 tháng 10 năm 2024, tại số nhà B X, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an thành phố B và Công an phường T, thành phố B phát hiện bắt quả tang Trần Quốc Đ có hành vi cất giấu 8,1285 gam ma túy đá (Methamphetamine) với mục đích bán. Trước đó, vào lúc 02 giờ 48 phút cùng ngày, Đ còn bán cho người nữ giới sử dụng tài khoản Zalo “Vân Al” một gói ma túy đá ở khu vực cuối đường Đ, phường T, thành phố B, thu lợi bất chính số tiền 500.000 đồng.

Xét thấy, bị cáo là người thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên biết được ma túy là chất gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi mua bán trái phép chất ma túy đều bị pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc. Song do ý thức coi thường pháp luật và vì mục đích tư lợi, bị cáo đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết định khung hình phạt, nhận thấy: Số lượng ma túy bị cáo cất giấu để bán nêu trên có định lượng quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Mặt khác, bị cáo có 03 tiền án, chưa được xóa án tích, trong đó lần gần nhất ngày 16 tháng 7 năm 2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt 07 năm tù tại bản án số: 179/2019/HSST. Ngày 30 tháng 01 năm 2024, bị cáo chấp hành xong án phạt tù và chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để học tập, rèn luyện cho bản thân để trở thành công dân tốt mà lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phạm tội với tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

  • “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
  • 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:
  • i) Heroin, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
  • q) Tái phạm nguy hiểm”.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; bị cáo Đ từng đi nghĩa vụ quân sự đóng quân tại đại đội 12, tiểu đoàn I, trung đoàn F, sư đoàn 10, QĐ3 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội là rất nghiêm trọng, căn cứ vào các tình tiết của vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đảm bảo mục đích giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • - Đối với 7,9821 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 1671/KL-KTHS ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ và 01 cân điện tử là tang vật của vụ án, cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với điện thoại di động kiểu dáng SamSung màu đen bị vỡ màn hình, số Imei: 3535151333221809 gắn sim số 0903.590.253 là công cụ bị cáo Đ sử dụng phạm tội cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
  • - Đối với số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính của bị cáo Trần Quốc Đ (do mua bán trái phép chất ma túy) cần truy thu để sung vào ngân sách Nhà nước.

[6] Về các đối tượng và hành vi liên quan:

  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo Trần Quốc Đ. Công an thành phố B ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 005370/QĐ-XPHC, ngày 11/10/2014 bằng hình thức Cảnh cáo theo khoản 1 Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ, là phù hợp nên chấp nhận.
  • - Đối với nguồn ma túy bị cáo Đ khai mua của người nam giới tên “Cu A” ở khu vực nghĩa địa cũ ở đường P, thành phố B. Quá trình điều tra, vẫn chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên tách hành vi bán trái phép chất ma túy của “Cu A” ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.
  • - Đối với người nữ giới sử dụng tài khoản Z “Vân Al” liên lạc mua ma túy của bị cáo Đ. Đến nay, Cơ quan điều tra vẫn chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này, nên Cơ quan điều tra tách hành vi của đối tượng này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh, làm rõ là phù hợp.
  • - Đối với căn nhà tại địa chỉ: 2 X, phường T, thành phố B là nơi bị cáo Đ cất giấu ma túy. Quá trình điều tra, căn nhà trên do ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1976 và bà Phan Thị Mỹ H1, sinh năm 1977, nơi thường trú: E N, phường G, quận B, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Năm 2024, ông bà giao căn nhà trên cho bà Phan Thị Mỹ D (chị gái bà H1) sinh năm 1975, nơi thường trú: 78 N, phường T, thành phố B trông coi và quản lý. Ngày 30 tháng 8 năm 2024, bà D cho bà Vũ Thị Thu H, sinh năm: 2001, nơi thường trú: Thôn B, xã C, thành phố B thuê căn nhà trên. Ngày 10 tháng 10 năm 2024, bị cáo Đ đến nhà bà H, ông Huỳnh Dương Bảo C2 và ông B, bà H không biết việc bị cáo Đ cất giấu ma túy trong nhà nên không đề cập xử lý với ông B, bà H là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo Trần Quốc Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Quốc Đ phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm i, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc Đ: 11 (mười một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2024.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu, tiêu hủy đối với: 7,9821 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 1671/KL-KTHS ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Phòng K - Công an tỉnh Đ và 01 cân điện tử là tang vật của vụ án.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động kiểu dáng Sam sung màu đen bị vỡ màn hình, số Imei: 3535151333221809 gắn sim số 0903.590.253 là công cụ bị cáo Trần Quốc Đ sử dụng vào việc phạm tội.

(Vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/01/2025 giữa Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).

Truy thu sung công quỹ Nhà nước số tiền số tiền 500.000 đồng do bị cáo Trần Quốc Đ thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Quốc Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP BMT;
  • - Công an Tp BMT;
  • - Chi cục THADS TP BMT;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Y Kăn Niê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Quốc Đ - Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger