Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN HOÀN KIẾM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 31/2025/HS-ST

Ngày: 23/01/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Phương Mai

Ông Nguyễn Văn Hòa

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm- Thư ký Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Trần Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 259/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 259/2025/QĐXXST-HS ngày 10/01/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Tống Minh H. Giới tính: Nữ. Sinh năm: 1996.

Tên gọi khác: Không.

ĐKHKTT: SỐ 51 T, phường Đ, quận H, H.

Chỗ ở: Số 84 Đ, phường H, quận T, H.

Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Quốc tịch: Việt Nam.

Họ và tên cha: Tống Xuân M

Họ và tên mẹ: An Thị Kim P

Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ hai.

Họ tên chồng: Trần Đức D

Có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ: 01/8/2024 Tạm giam: 10/8/2024 Số giam: 4569E2/M1C.

Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an T3.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Tống Xuân L. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1986.

Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Số E N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Họ và tên cha: Tống Xuân M

Họ và tên mẹ: An Thị Kim P

Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Họ tên vợ: Phạm Thị H2

Có 01 con sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ: 01/8/2024 Tạm giam: 10/8/2024 Số giam: 4567E2/7.

Bị cáo hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an T3.

Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Nguyễn Xuân S. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1973.

Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Thôn V, xã H, huyện M, Hà Nội.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Họ và tên cha: Nguyễn Xuân Vượng Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N. Gia đình có năm anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Họ tên vợ: Bùi Thị T

Có 03 con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2006.

Tiền án, tiền sự: Không.

Tạm giữ: 05/8/2024 Hủy bỏ biện pháp tạm giữ: 08/8/2024.

Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Có mặt tại phiên tòa.

4. Họ và tên: Đỗ Thị T1 Giới tính: Nữ. Sinh năm: 1954.

Tên gọi khác: Không.

Nơi cư trú: Tổ E phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Nghề nghiệp: Tự do. Trình độ học vấn: 7/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Họ và tên cha: Đỗ Văn Tâm

Họ và tên mẹ: Đồng Thị B

Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ ba.

Họ tên chồng: Dương Như Q

Có 01 con sinh năm: 1983.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Phạm Thị T2, sinh năm 1980. HKTT: tổ F M, C, C, Q - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 55 phút ngày 31/7/2024, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm hình sự - Công an quận H tiến hành kiểm tra cửa hàng bán xổ số tại địa chỉ số B phố C, phường C, quận H, TP Hà Nội phát hiện Tống Xuân L đang tập hợp bảng tính số lô, đề cho khách tại cửa hàng. Tại chỗ, L khai nhận trong ngày 31/07/2024 sau khi nhận các số lô, đề của khách bằng hình thức ghi trực tiếp bằng tích kê hoặc nhận qua ứng dụng Z mang tên “Ljnk” thì L đã gửi vào tài khoản telegram của Tống Minh H (em gái L) mang tên “Duy Xoăn” 06 tin nhắn tổng hợp số lô đề khách đánh. Tổ công tác đã đưa L và toàn bộ tang vật về trụ sở Công an quận H để giải quyết.

- Vật chứng thu giữ của Tổng Xuân L: 34 tờ tích kê ghi số lô đề; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Note 9 màu đen, số imeil: 359445090496625, số imei2: 359445090496623, không có sim trong máy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi mimax, sim 1: 0389491986, sim 2: 0901751950, số imeil: 868490048478634, số imei2: 868490048478642 và 10.500.000 đồng. (BL: 156).

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tống Xuân L tại địa chỉ số E N, phường P, quận H, Hà Nội: Không thu giữ đồ vật, tài sản gì. (BL: 137-138).

Đến ngày 01/8/2024, Tống Minh H đến trụ sở Công an quận H đầu thú.(BL: 147-148).

- Vật chứng thu giữ của Tổng Minh H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax màu tím 128Gb, sim số: 0978398596, số imeil: 358686325253924, số imei2: 358686325170714; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi max3 màu đen không lắp sim, số imei1: 868129038728174, số imei2: 86812938728182 và số tiền 7.760.000 đồng. (BL: 153-154).

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tống Minh H tại địa chỉ số H L, phường P, quận H, Hà Nội: Không thu giữ đồ vật, tài sản gì. (BL: 141-142).

Qua điều tra xác định các đối tượng tham gia đánh bạc dưới hình thức mua số lô số đề gồm: Đỗ Thị T1, Phạm Thị T2 và Nguyễn Xuân S. Ngày 01/8/2024 và ngày 05/8/2024, Đỗ Thị T1 và Nguyễn Xuân S đến trụ sở Công an quận H đầu thú. (BL: 146; 149).

- Vật chứng thu giữ của Đỗ Thị T1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A58 màu xanh ngọc dung lượng 128Gb, số imeil: 865039068313651, số imei2: 865039068313644. (BL: 159).

- Vật chứng thu giữ của Nguyễn Xuân S: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 pro max, số imei: 3539171029691671, số imei2: 353917103099881. (BL: 152). Tiến hành kiểm tra điện thoại phát hiện hình ảnh chuyển khoản 3.000.000 đồng đến số tài khoản 544588888888 của Tống Xuân L tại ngân hàng T4.

Ngày 24/9/2024, Cơ quan CSĐT – Công an quận H đã ra Quyết định trưng cầu giám định chữ viết, chữ số trên 34 tờ tích kê thu giữ của Tống Xuân L. (BL: 79-80).

Tại Kết luận giám định số 7791/KL-KTHS ngày 05/11/2024 của Phòng K - Công an T3 kết luận: Chữ viết, chữ số trên các mẫu cần giám định ký hiệu từ A1 đến A34 với chữ viết, chữ số đứng tên Tống Xuân L trên các mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M10 là chữ do cùng một người viết ra. (BL: 81-82).

Quá trình điều tra xác định nội dung vụ án như sau:

Vào khoảng giữa tháng 7/2024, Tống Xuân L mở cửa hàng bán xổ số kiến thiết miền B tại địa chỉ B Cầu Đ, phường C, quận H, Hà Nội. Do cần thêm thu nhập nên L đã nảy sinh ý định bán các số lô, đề cho khách sau đó chuyển cho em gái là Tống Minh H để tổng hợp thắng thua trả tiền cho khách. L và H cùng quy ước nếu khách đánh số đề thì L sẽ thu đủ tiền của khách đánh rồi ghi lên thành 120% tổng số tiền khách đánh và được hưởng 12% số tiền khách đánh số đề. Khách đánh đề 3 số, L sẽ được hưởng 40% số tiền khách đánh; khách đánh lô xiên, xiên quay L ghi cho khách lên thành 120% và được hưởng 35% số tiền khách đánh; số lô sẽ thu 21.800 đồng/01 điểm (L sẽ thu của khách thành 22.500 đồng/01 điểm). Sau 18 giờ 30 phút, H sẽ lấy kết quả xổ số miền B cùng ngày để so sánh kết quả, số đề so với 2 số cuối ở 2 số cuối của giải đặc biệt, số đề 3 số so với 3 số cuối của giải bặc biệt còn lô và lô xiên sẽ so với 2 số cuối của tất cả các số trong giải. Số đề khách trúng sẽ được nhân 70 lần tiền đánh, khách trúng số lô sẽ được nhân 80 lần tiền đánh, khách trúng số đề 3 số sẽ được nhân 400 lần tiền đánh, khách đánh lô xiên 2 trúng sẽ được nhân 10 lần tiền đánh, còn lô xiên 3 sẽ được nhân 40 lần tiền đánh.

Trong ngày 31/7/2024, Tổng Xuân L đã bán số lô, đề cho các khách và ghi vào 34 tờ tích kê, ngoài ra còn ghi thêm nhiều tích kê khác cho khách vãng lai khác nhưng L không lưu lại tờ tích kê mà ký xác nhận trực tiếp vào các tích kê giao cho khách cầm về khi nào có kết quả sẽ mang ra đối chiếu thanh toán. Sau đó, L tập hợp các số lô, đề khách đánh và chuyển qua ứng dụng telegram cho Tống Minh H 06 tin nhắn cụ thể như sau:

Tin nhắn 1: Đề 64, 69, 19, 14, 61, 33, 88 mỗi số đánh 120.000 đồng; đề 65, 15, 10, 60 mỗi số 60.000 đồng; đề bộ F mỗi số 480.000 đồng; bộ đề 61, 83 mỗi số 120.000 đồng; lô 13, 31 mỗi số đánh 50 điểm; số tiền bán lô, đề là 8.060.000 đồng. Sau giờ mở thưởng, trúng 600.000 đồng số đề 64 tương đương số tiền 42.000.000 đồng; trúng 50 điểm lô số 31 được tương đương: 4.000.000 đồng, tổng số tiền trúng lô, đề là 46.000.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 8.060.000 đồng + 46.000.000 đồng = 54.060.000 đồng (năm tư triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng).

Tin nhắn 2: Lô xiên nháy 05, 50 đánh 200.000 đồng; lô xiên nháy 38, 83 - 46, 64 mỗi cặp đánh 20.000 đồng. Sau giờ mở thưởng, không trúng số. Tổng tiền dùng để đánh bạc là: 288.000 đồng (hai trăm tám mươi tám nghìn đồng).

Tin nhắn 3: Đề 05, 50, 38, 83, 16, 12, 72 mỗi số đánh 240.000 đồng; đề 11, 33, 44, 22, 66 mỗi số đánh 180.000 đồng; đề 01, 10, 29, 92, 56, 65, 47, 74, 19, 91, 68, 86, 39, 93, 34, 43 28, 82, 08, 80, 25, 52, 23, 32 09, 90, 59, 95, 54, 45, 07, 70, 37, 73 mỗi số đánh 120.000 đồng; đề 26, 62, 37, 73, 36, 63, 76, 67, 78, 87, 53, 35, 58, 85, 48, 84, 12, 21, 69, 96, 18, 81, 48, 84, 69, 96, 06, 60, 36, 63 mỗi đánh 120.000 đồng; đề 27, 72, 37, 73, 47, 74, 48, 84, 23, 32, 02, 20, 36, 63, 39, 93, 46, 64, 19, 91, 67, 76, 25, 52, 18, 81, 79, 97, 29, 92, 28, 82, 16, 61, 98, 89 x 24n; đề 68, 86, 39, 93, 48, 84, 69, 96, 59, 95, 12, 21, 65, 56 mỗi số đánh 120.000 đồng; bộ đề kép mỗi con đánh 120.000 đồng; bộ đề 22, 88 mỗi số đánh 12.000 đồng; lô: 33, 44, 27, 72 48, 84, 13, 31 mỗi số đánh 25 điểm. Số tiền bán lô, đề là: 15.388.000 đồng. Sau giờ mở thưởng, khách trúng số đề 64 tương đương 1.680.000 đồng, trúng các số lô 33, 72, 31 mỗi số 25 điểm (riêng số lô 72 về 2 lần) tổng thắng được100 điểm x 80 lần tương đương: 8.000.000 đồng, tổng số tiền trúng là 9.680.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là: 15.388.000 + 9.680.000 = 25.068.000 đồng (hai mươi lăm triệu không trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Tin nhắn 4: Đề 3 số 114 đánh 120.000 đồng; 236, 141 mỗi số đánh 60.000 đồng; 338, 883, 383, 838 mỗi số đánh 36.000 đồng; 533, 525 mỗi số đánh 24.000 đồng; 739 đánh 18.000 đồng; 136, 952, 452, 953, 425, 925, 461, 061, 535, 636, 547, 515, 126, 439, 169, 569, 859, 609, 106, 545, 383, 338 mỗi số 12.000 đồng; 129, 169, 199, 857, 839, 819, 639, 144, 156, 166, 167, 339, 639, 839, 739, 267, 167, 567, 567, 568, 168, 167 mỗi số 6000 đồng. Sau giờ mở thưởng, không trúng số. Tổng tiền dùng để đánh bạc là: 846.000 đồng (tám trăm bốn mươi sáu nghìn đồng).

Tin nhắn 5: Đề số 42 đánh 180.000 đồng; 38, 8,3 43, 24 mỗi số đánh 120.000 đồng; 33, 88 mỗi số đánh 96.000 đồng; 35, 58, 85, 26, 44, 45, 69, 99, 23, 32, 48, 84, 11, 44, 32, 72 mỗi số đánh 60.000 đồng; 38, 50, 50 ,67, 69, 57, 19, 56, 54, 00, 22, 44, 66, 88, 39, 67, 39 mỗi số đánh 48.000 đồng; 25, 52, 63, 31, 33, 36 ,37, 38, 39, 28, 11, 63, 24, 83, 67, 68, 31, 33, 36, 38, 39, 44 mỗi số đánh 36.000 đồng; 37, 73, 41, 73 mỗi số đánh 30.000 đồng; 29, 61, 47, 74, 35, 36, 47, 74, 33, 29, 22, 23, 26, 28, 27, 42, 45, 47, 44, 46, 48, 62,26, 16, 56, 68, 52, 56, 57, 59, 58, 61, 63, 69, 45, 44, 46, 47, 42, 77, 99, 49, 31, 61, 62, 65, 67, 68, 69 mỗi số đánh 24.000 đồng; 63, 29, 79, 78, 87, 43, 71 mỗi số đánh 18.000 đồng; 36, 63, 48, 05, 50, 35, 53, 66, 47, 74, 39, 93, 23, 32, 16, 61, 27, 72, 26, 62, 39, 93, 29, 92, 58, 85, 01,10, 87, 78, 68, 86, 09, 90, 81, 18, 56, 65, 54, 45, 34, 43, 38, 83, 67,28, 35, 69, 42, 37, 23, 15, 98, 44, 36, 23, 25, 52, 65, 56, 67, 76, 25, 52, 03,30, 01, 57, 03, 47, 48, 86, 87, 88, 99, 27, 72, 76, 02, 07, 05, 50, 99, 62, 65 mỗi số đánh 12.000 đồng; 55, 85, 71, 19, 74, 69, 96, 97, 79, 01, 10, 38, 83, 29, 92, 47, 74, 65, 56, 54, 18, 19, 09, 06, 08, 59, 95, 96, 97, 98, 88, 47, 74, 54, 22, 79, 14, 17, 34, 37 mỗi số đánh 6000 đồng; bộ đề 38 mỗi số đánh 120.000 đồng bộ đề 38 mỗi số 60.000 đồng; bộ Đ, 32 mỗi số 24.000 đồng; Bộ đề 38 mỗi số đánh 12.000 đồng; bộ Đ1, 57 mỗi số 6000 đồng; bộ đề đầu 5, 6 mỗi số 24.000 đồng; bộ đề đầu 3,2,3 mỗi số đánh 12.000 đồng; bộ đề đầu 0, 1, 4 mỗi số đánh 6000 đồng; bộ đề đầu đuôi 5 mỗi số đánh 6000 đồng, bộ đề tổng 1 mỗi số đánh 18.000 đồng; bộ đề tổng 2 mỗi số 6000 đồng, bộ đề kép mỗi số 36.000 đồng; Lô số 27 đánh 25 điểm; lô số 50, 65 mỗi số đánh 10 điểm; 12, 27, 37, 73 mỗi số đánh 5 điểm; 38 x 4 điểm; 94 19, 39, 11, 96, 48, 83, 84 mỗi số đánh 3 điểm; 85, 38, 83, 46, 64 mỗi số đánh 2 điểm; Lô xiên Quay số 93, 98, 54, 31 đánh 12.000 đồng; 12, 21, 98, 89 đánh 12.000 đồng; Lô xiên 3: 27, 20, 35 đánh 60.000 đồng; Lô xiên 3: 94, 11, 19 đánh 24.000 đồng, lô xiên 2 số 85, 94 đánh 36.000 đồng, lô xiên 23-59, 02 -12, 12-37 mỗi cặp đánh 24.000 đồng; lô xiên 2: 11- 84, 33 - 48 mỗi cặp đánh 12.000 đồng. Số tiền bán lô, đề là: 11.815.400 đồng. Sau giờ mở thưởng, khách trúng 24.000 đồng đề số 64 tương đương 1.680.000 đồng; trúng 18 điểm lô (5 điểm số 12, 4 điểm số 38, 2 điểm số 38, 4 điểm số 64, 3 điểm số 39) tương đương số tiền 1.440.000 đồng; trúng lô xiên 12.000 đồng (98 – 31) tương đương 120.000 đồng, 12.000 đồng (12 – 21 – 98) tương đương 840.000 đồng, tổng số tiền trúng lô, đề là 4.080.000 đồng. Tổng tiền dùng để đánh bạc là 11.815.400 + 4.080.000 = 15.895.400 đồng (mười lăm triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn bốn trăm đồng).

Tin nhắn 6: Đề số 47, 74, 46, 64, 88 mỗi số đánh 24.000 đồng; số 29, 92 mỗi số đánh 12.000 đồng; số 02, 20, 00 mỗi số đánh 6000 đồng. Số tiền bán lô, đề là 162.000 đồng. Sau giờ mở thưởng, khách trúng 24.000 đồng số đề 64 được tương đương 1.680.000 đồng. Tổng tiền dùng để đánh bạc là 162.000 + 1.680.000 = 1.842.000 đồng (một triệu tám trăm bốn mươi hai nghìn đồng).

Tổng số tiền đánh bạc của Tống Xuân L với Tống Minh H trong ngày 31/7/2024 là 97.999.400 đồng (chín mươi bảy triệu, chín trăm chín mươi chín nghìn, bốn trăm đồng). Trong đó, bán số lô, đề cho Đỗ Thị T1 với số tiền 2.250.000 đồng, sau giờ mở thưởng Thoan trúng 4.000.000 đồng số lô 31, tổng số tiền đánh bạc của T1 trong ngày 31/07/2024 là: 6.250.000 đồng (sáu triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng); bán số lô, đề cho Nguyễn Xuân S với số tiền 4.900.000 đồng, sau giờ mở thưởng Sửu trúng 42.000.000 đồng số đề 64, tổng số tiền đánh bạc của S trong ngày 31/07/2024 là: 46.900.000 đồng (bốn mươi sáu triệu chín trăm nghìn đồng); bán số lô, đề cho Phạm Thị T2 (sinh năm: 1980; HKTT: Tổ 6 M, C, C, Q ) 2.803.000 đồng, sau giờ mở thưởng T2 trúng 3 điểm lô số 39 tương đương 240.000 đồng, 18.000 đồng số đề 64 tương đương 1.512.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của T2 trong ngày 31/07/2024 là: 4.555.000 đồng (bốn triệu, năm trăm năm mươi năm nghìn đồng). Tại Cơ quan điều tra, Tống Xuân L khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngày 31/07/2024, sau khi bán các số lô, đề cho khách L gửi tin nhắn qua ứng dụng Telegram chuyển cho em gái là Tống Minh H để H tổng hợp thắng thua trả tiền cho khách tuy nhiên chưa trả tiền cho khách thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt giữ. Tổng số tiền đánh bạc của Tống Xuân L trong ngày 31/7/2024 là 97.999.400 đồng. Trong ngày 31/7/2024, có Nguyễn Xuân S chuyển khoản 3.000.000 đồng là tiền đánh lô, đề vào tài khoản số [...] của Tống Xuân L tại ngân hàng T4, sau đó, L rút số tiền trên và đưa tiền mặt cho H. Ngoài ra, vào ngày 30/7/2024, L đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi lô, đề với Đỗ Thị T1 cụ thể: 30 điểm số lô 68, số lô 40 - 49 mỗi số x 20 điểm tương đương với số tiền 1.575.000 đồng. Sau khi có kết quả sổ xố kiến thiết miền B ngày 30/07/2024, T1 trúng số lô 40 x 20 điểm tương đương số tiền 1.600.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc ngày 30/07/2024 của L và T1 là 3.175.000 đồng tuy nhiên chưa thanh toán tiền này mà để hôm sau đánh tiếp. 34 tờ tích kê L ghi số lô đề cho khách sau đó tổng hợp chuyển qua tin nhắn cho H; 02 điện thoại di động L sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội và 10.500.000 đồng là tiền ghi số lô, đề cho khách ngày 31/7/2024. (BL: 207-249).

Tống Minh H khai nhận phù hợp với lời khai của Tống Xuân L. Tổng số tiền đánh bạc của Tống Minh H trong ngày 31/7/2024 là 97.999.400 đồng. Do chưa thanh toán thắng thua cho khách thì bị phát hiện, bắt giữ nên H và L chưa được hưởng lợi. Ngày 31/7/2024, là lần đầu tiên H đánh bạc dưới hình thức ghi lô, đề với L, ngoài ra không có ai tham gia cùng. 02 chiếc điện thoại mà cơ quan công an tạm giữ của H, trong đó chiếc điện thoại Xiaomi Max 3 màu đen H dùng để nhận số lô, đề qua telegram do L chuyển, chiếc điện thoại Iphone 14 Promax là điện thoại cá nhân của H dùng để liên lạc với bạn bè người thân, không sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội; số tiền 7.760.000 đồng thu giữ trong có số tiền 3.000.000 đồng là tiền ghi lô đề cho khách L đưa cho H vào chiều ngày 31/07/2024, còn lại 4.760.000 đồng là tiền chi tiêu cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội. (BL: 263-292).

Đỗ Thị T1 khai nhận: Ngày 30/7/2024, T1 đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi lô, đề với Tống Xuân L cụ thể: 30 điểm số lô 68, số lô 40 - 49 mỗi số x 20 điểm tương đương với số tiền 1.575.000 đồng. Sau khi có kết quả sổ xố kiến thiết miền B ngày 30/07/2024, T1 trúng số lô 40 x 20 điểm tương đương số tiền 1.600.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc ngày 30/07/2024 của T1 là 3.175.000 đồng, sau khi trừ số tiền thắng với tiền đánh T1 được nhận về số tiền 25.000 đồng tuy nhiên T1 và L chưa thanh toán số tiền trên mà để hôm sau đánh tiếp. Đến ngày 31/7/2024, Thoan đánh bạc dưới hình thức ghi lô, đề với L cụ thể: số lô 13, 31 mỗi số 50 điểm tương đương số tiền 2.250.000 đồng, sau giờ mở thưởng Thoan trúng số lô 31 được 4.000.000 đồng, tổng số tiền đánh bạc của T1 trong ngày 31/07/2024 là: 6.250.000 đồng tuy nhiên chưa thanh toán tiền thắng thua. Chiếc điện thoại di động thu giữ, T1 sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội. (BL: 307-320).

Nguyễn Xuân S khai nhận: Ngày 31/7/2024, S đánh bạc dưới hình thức ghi lô, đề với Tống Xuân L cụ thể: bộ đề 64 mỗi số 400.000 đồng; bộ đề 61, 83 mỗi số 100.000 đồng; đề 64, 69, 19, 14 mỗi số 100.000 đồng; đề 61,33, 88 mỗi số 100.000 đồng; đề 65, 15, 10, 60 mỗi số 50.000 đồng, tương đương số tiền 4.900.000 đồng. S đã chuyển khoản trước số tiền 3.000.000 đồng từ tài khoản của mình sang tài khoản số [...] mang tên Tống Xuân L tại ngân hàng T4. Sau giờ mở thưởng, S trúng số đề 64 tương đương 42.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Xuân S ngày 31/07/2024 là 46.900.000 đồng tuy nhiên chưa thanh toán tiền thắng thua. Chiếc điện thoại di động thu giữ, S sử dụng liên quan đến hành vi phạm tội. (BL: 332-348).

Phạm Thị T2 khai: Ngày 31/7/2024, T2 nhắn 05 tin nhắn với Tống Xuân L đánh bạc dưới hình thức ghi lô, đề cụ thể: lô 19, 39, 11, 96, 48 mỗi số 3 điểm; 20.000 đồng lô xiên ba 94, 11, 19; 10.000 đồng lô xiên 33, 48; đề số đầu 6 và 5 gồm các số: 60, 61, 62, 63, 64, 65, 66, 67, 68, 69, 50, 51, 52 ,53, 54, 55, 56, 57, 58, 59 mỗi số 18.000 đồng; đề đầu số 2 và 3 gồm các số: 20, 21, 22, 23, 24, 25, 26, 27, 28, 29, 30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39 mỗi số 10.000 đồng; đề đầu số 0, 1, 4 gồm các số: 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49 mỗi số 5.000 đồng; đề số: 01, 10, 38, 83, 29, 92, 47, 74, 65, 56, 54 mỗi số 5.000 đồng; đề số: 31, 33, 36, 37, 38, 39 mỗi số 28.000 đồng; đề số: 29, 22, 23, 26, 28, 27 mỗi số 16.000 đồng; đề số: 18, 19, 09, 06, 08 mỗi số 5.000 đồng; đề 3 số: 129, 169, 199 mỗi số 5.000 đồng; đề 42, 45, 47, 44, 46, 48, 62, 61, 65, 56, 68 mỗi số 16.000 đồng; đề 52, 56, 57, 59, 58, 61, 63, 69 mỗi số 18.000 đồng; đề số 67, 69, 57 mỗi số 38.000 đồng; đề 3 số 857, 839, 819 mỗi số 5.000 đồng; đề 3 số 639, 144, 156 166 mỗi số: 5.000 đồng; đề số 29, 79, 78, 87 mỗi số 15.000 đồng; đề số 19, 56, 54 mỗi số 38.000 đồng; đề số 45, 44, 46, 47, 42 mỗi số 18.000 đồng; 48.000 đồng đề số 69; đề 3 số: 169, 569, 859 mỗi số 10.000 đồng; đề số 61,62, 65, 67, 68, 69 mỗi số 18.000 đồng; đề số 39 và 67 mỗi số 38.000 đồng; đề số 47, 48, 86, 87, 88, 99 mỗi số 10.000 đồng; đề ba 3 số 167, 339, 639, 839, 739, 267, 167, 567 mỗi số 5.000 đồng; đề số 67 và 68 mỗi số 28.000 đồng; đề 3 số 567, 568, 168, 167 mỗi số 5.000 đồng; đề số 31, 33, 36, 38, 39 mỗi số 28.000 đồng; đề 3 số 739 số tiền 15.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của T2 là 2.803.000 đồng. Sau giờ mở thưởng, T2 trúng 3 điểm lô số 39 tương đương 240.000 đồng, trúng 18.000 đồng số đề 64 tương đương 1.512.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc của Phạm Thị T2 trong ngày 31/07/2024 là: 4.555.000 đồng. Do L bị công an bắt nên chưa thanh toán tiền thắng thua với L. Ngoài ra, ngày 31/7/2024, T2 có thực hiện 02 giao dịch chuyển tiền đến số tài khoản 544588888888 mang tên Tống Xuân L tại Ngân hàng TMCP K1 (T4), T2 khai chuyển khoản để thanh toán số tiền 65.000 đồng mua xổ số kiến thiết Miền Bắc ngày 30/07/2024 và trả tiền vay của L từ trước là 1.107.000. Đối với chiếc điện thoại di động T2 dùng để nhắn tin ghi lô, đề với L, T2 đã đánh rơi mất trên đường về nhà. (BL: 351-363).

Xét ngày 31/7/2024, Phạm Thị T2 có hành vi đánh bạc tuy nhiên số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với T2. Đối với Tống Xuân L và Đỗ Thị T1 trong ngày 30/7/2024 có hành vi đánh bạc tuy nhiên số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Thị T2, Tống Xuân L, Đỗ Thị T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị Định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.

Anh Trần Đức D (sinh năm: 1995; HKTT: số H L, phường P, quận H, Hà Nội) là chồng của Tống Minh H khai: Anh Duy sử dụng số điện thoại 0348.835.xxx đăng ký hộ Hằng tài khoản telegram trong chiếc điện thoại Xiaomi Max 3 màu đen. Anh D1 vẫn sử dụng sim số điện thoại 0348.835.xxx để liên lạc cá nhân và không biết việc H sử dụng số tài khoản telegram trên để tổ chức đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, đề. Quá trình điều tra xác định anh D1 không liên quan đến hành vi phạm tội của H và L nên Cơ quan điều tra không xử lý. (BL: 364-371).

Đối với các khách vãng lai có hành vi đánh bạc thể hiện qua 34 tờ tích kê ghi số lô, đề tạm giữ của Tống Xuân L và ghi trực tiếp không lưu lại tích kê, chưa thanh toán tiền, L khai không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh, làm rõ và xử lý đối với những đối tượng đánh bạc nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 252/CT-VKS ngày 15/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm đã truy tố Tống Minh H, Tống Xuân L về tội "Tổ chức đánh bạc" theo điểm c khoản 1 Điều 322 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố Nguyễn Xuân S, Đỗ Thị T1 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố.

Bị cáo L khai nhận bị cáo là người có ý định ghi số lô đề cho khách và rủ H cùng làm. Bị cáo là người trực tiếp ghi số lô đề với khách, trực tiếp thanh toán tiền thắng, thua với khách.

Bị cáo H khai nhận bị cáo nhận các số lô đề khách đánh do L gửi, tổng hợp thắng thua và chuyển lại cho L thanh toán tiền cho khách, bị cáo không trực tiếp nhận số đánh lô đề của khách, không trực tiếp thanh toán thắng thua cho khách chơi lô đề.

Bị cáo S, T1 khai trực tiếp đánh số lô đề với L và thanh toán tiền thắng thua với L.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Tống Minh H, Tống Xuân L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tổ chức đánh bạc", tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự; hành vi của các bị cáo Nguyễn Xuân S, Đỗ Thị T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Tống Minh H mức án từ 26 tháng đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 52-60 tháng. Giao BC cho UBND phường P, quận H, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Tống Xuân L mức án từ 24 tháng đến 28 tháng tù giam.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i. s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam thời hạn thử thách 36-48 tháng. Giao BC cho UBND xã H, huyện M, Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T1 mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 18-24 tháng. Giao BC cho UBND phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: xử lý theo quy định của pháp luật

Nói lời sau cùng, các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản cáo trạng của VKSND quận Hoàn Kiếm đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ có sở kết luận: Khoảng 18 giờ 55 phút ngày 31/7/2024, tại cửa hàng bán xổ số – địa chỉ số B phố C, phường C, quận H, TP Hà Nội, Tống Xuân L và Tống Minh H đã có hành vi tổ chức đánh bạc được thua bằng tiền VNĐ trái phép dưới hình thức mua bán số lô, đề (sau giờ mở thưởng kết quả xổ số kiến thiết miền B) với Đỗ Thị T1, Nguyễn Xuân S, Phạm Thị T2 và các khách vãng lai khác với tổng số tiền tổ chức đánh bạc là 97.999.400 đồng thì bị bắt quả tang cùng tang vật. Trong đó, số tiền đánh bạc của Đỗ Thị T1 là 6.250.000 đồng và số tiền đánh bạc của Nguyễn Xuân S là 46.900.000 đồng. Do chưa thanh toán thắng thua nên L, H, T1, S chưa thu lời bất chính.

[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Tống Minh H, Tống Xuân L đã cấu thành tội Tổ chức đánh bạc, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự.

Hành vi nêu trên của các bị cáo Nguyễn Xuân S, Đỗ Thị T1 đã cấu thành tội Đánh bạc, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Không

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Tống Minh H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu; bị cáo ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo Tống Xuân L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Bị cáo Nguyễn Xuân S, Đỗ Thị T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo H và L là đồng phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo L là người chủ mưu và thực hành; bị cáo H là người thực hành.

[6] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo đã cố ý xâm phạm đến trật tự công cộng được BLHS bảo vệ. Khi quyết định hình phạt, HĐXX cũng xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân để áp dụng đối với các bị cáo.

Bị cáo L là người khởi xướng, thực hành tích cực, bị cáo còn bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc ngày 30/7/2024 nên cần xử phạt bị cáo mức án tù giam, cách ly xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe. Các bị cáo H, S, T1 nhận thức được hành vi sai trái của mình; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nơi cư trú rõ ràng nên cho các bị cáo được hưởng án treo, cải tạo ngoài xã hội cũng có tác dụng giáo dục các bị cáo.

[7] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về nhân thân, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo phù hợp với quy định của pháp luật.

[8] Về vật chứng: tịch thu sung công điện thoại di động và số tiền liên quan đến hành vi phạm tội, tịch thu tiêu hủy các sim điện thoại không còn giá trị sử dụng; trả lại các bị cáo điện thoại di động và số tiền không liên quan đến hành vi phạm tội.

[9] Về các vấn đề khác:

- Đối với Phạm Thị T2 có hành vi đánh bạc tuy nhiên số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự đối với T2. Đối với Tống Xuân L và Đỗ Thị T1 trong ngày 30/7/2024 có hành vi đánh bạc tuy nhiên số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Thị T2, Tống Xuân L, Đỗ Thị T1 theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị Định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình nên HĐXX không giải quyết.

- Anh Trần Đức D (sinh năm: 1995; HKTT: số H L, phường P, quận H, Hà Nội) không liên quan đến hành vi phạm tội của H và L nên Cơ quan điều tra không xử lý nên HĐXX không giải quyết.

- Đối với các khách vãng lai có hành vi đánh bạc thể hiện qua 34 tờ tích kê ghi số lô, đề tạm giữ của Tống Xuân L và ghi trực tiếp không lưu lại tích kê, chưa thanh toán tiền, L khai không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có điều kiện xác minh, làm rõ và xử lý đối với những đối tượng đánh bạc nêu trên. Do đó HĐXX không giải quyết.

[10] Về án phí: Các bị cáo H, L, S phải chịu án phí theo quy định. Bị cáo T1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn nộp tiền án phí theo quy định.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Tống Minh H, Tống Xuân L phạm tội "Tổ chức đánh bạc"; bị cáo Nguyễn Xuân S, Đỗ Thị T1 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65; Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Tống Minh H 22 (Hai mươi hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 44 (Bốn mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Trả tự do cho bị cáo Tống Minh H ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về tội phạm khác.

3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Tống Xuân L 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 01/8/2024.

4. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S 16 (Mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T1 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Giao bị cáo Tống Minh H cho Ủy ban nhân dân phường phố H, quận H, thành phố Hà Nội (nơi bị cáo cư trú, sinh sống) để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

- Giao bị cáo Nguyễn Xuân S cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Giao bị cáo Đỗ Thị T1 cho Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

6.Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 của BLHS và Điều 106 của BLTTHS:

* Tịch thu sung công quỹ nhà nước các vật chứng sau:

  • 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Samsung Galaxy Note9 màu đen;
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Xiaomi mimax 3 đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Xiaomi max 3 màu đen đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 11 promax màu xanh;
  • 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu OPPO A58 màu xanh đã qua sử dụng;
  • Số tiền 10.500.000 (Mười triệu năm trăm nghìn) đồng;
  • Số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng.

* Tịch thu tiêu hủy:

  • 03 sim điện thoại thu giữ của các bị cáo không còn giá trị sử dụng.

* Trả lại bị cáo Tống Minh H 01 điện thoại di động kiểu dáng nhãn hiệu Iphone 14 Promax màu tím và số tiền 4.760.000 (Bốn triệu, bảy trăm sáu mươi nghìn) đồng (Tang vật là điện thoại di động kèm sim hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm và được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận tang vật, vật chứng ngày 04/12/2024).

Tang vật là số tiền 10.500.000 đồng hiện có tại kho bạc nhà nước H5 theo giấy nộp tiền mặt số 26459119 ngày 15/8/2024.

Tang vật là số tiền 3.000.000 đồng và 4.760.000 đồng hiện có tại kho bạc nhà nước H5 theo giấy nộp tiền mặt số 26459296 ngày 15/8/2024).

7. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Các bị cáo L, H, S mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí HSST. Bị cáo T1 được miễn nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

8. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Hoàn Kiếm;
  • - Công an quận Hoàn Kiếm;
  • - Chi cục THADS quận Hoàn Kiếm;
  • - Bị cáo và những người TGTT khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự sơ thẩm về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 31/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger