Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 10-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh Phượng.
  2. Ông Lê Hồng Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Vang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Minh- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 26A/2024/QĐ-TA ngày 22/11/2024 đối với bị cáo:

Võ Văn Hoàng P, sinh ngày 17 tháng 11 năm 2000 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; CCCD số: [...], cấp ngày 09/5/2021; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Phi H, sinh năm 1974 và bà Hoàng Thị L, sinh năm 1980; vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Từ nhỏ sống cùng bố mẹ tại Thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, lớn lên học đến lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình.

Ngày 29/4/20222 bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính 6.500.000đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích” nộp phạt xong ngày 07/6/2022.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/4/2024, chuyển tạm giam ngày 02/5/2024, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Phi H, sinh năm 1974. Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

Người làm chứng:

  • - Ông Hồ Viết H1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Đức V, sinh năm 1981. Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn sử dụng ma túy nên khoảng 19 giờ ngày 22/04/2024 Võ Văn Hoàng P, dùng điện thoại của mình liên lạc qua ứng dụng Telegram với một người đàn ông (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) ở khu vực đường N, phường A, thành phố H để hỏi mua ma túy hồng phiến với số lượng 100 viên thì người đàn ông này đồng ý và báo giá là 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) thì P đồng ý và hẹn địa điểm giao nhận ma túy là tại đường N, phường A, thành phố H. Sau đó, Võ Văn Hoàng P điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 75H1-139.92 đến khu vực đã hẹn trước thì người đàn ông này đã để sẵn ở một vị trí rồi chỉ chỗ cho P đến lấy ma túy rồi P đưa tiền cho người đàn ông này và P đi về nhà, P đã sử dụng hết 12 viên ma túy hồng phiến. Lúc 21 giờ 45 phút ngày 24/04/2024, P đang điều khiển xe mô tô biển số: 75H1-139.92 khi đến trước trường Trung học cơ sở P1 thuộc thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang đang cất giấu trong túi quần 01 (một) túi nilong màu trắng, có viền màu đỏ, bên trong có chứa 88 (tám mươi tám) viên nén hình trụ tròn màu đó, một mặt của mỗi viên có ký hiệu chữ "WY" để tìm chổ sử dụng ma túy. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Võ Văn Hoàng P tại thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế không phát hiện gì thêm.

Tại bản Kết luận giám định số 278/KL-KTHS ngày 29/4/2024 của phòng K Công an tỉnh T kết luận: mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 8,5847 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, màu trắng đỏ đen, biển số: 75H1 – 139.92, số máy: JC52E4439895, số khung: RLHJC5216CY462616. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Võ Phi H.
  • + 01 gói niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của giám định viên Trần N, 02 chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 02 dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “H2 mẫu vật vụ Võ Văn Hoàng P, bắt ngày 24/4/2024"
  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu S A13, màu đen số Imei 1: 352303780806065, số I: 2: 358889660806062, lắp sim V1 số:0342798926

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSPV ngày 03 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đã truy tố Võ Văn Hoàng P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Võ Văn Hoàng P từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của giám định viên Trần N, 02 chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 02 dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “H2 mẫu vật vụ Võ Văn Hoàng P, bắt ngày 24/4/2024”. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu S A13, màu đen số Imei 1: 352303780806065, số I: 2: 358889660806062, lắp sim V1 số:0342798926, đã qua sử dụng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà bị cáo Võ Văn Hoàng P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp khách quan với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 24/04/2024 tại trước trường Trung học cơ sở P1 thuộc thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Công an huyện P phát hiện bắt quả tang bị cáo Võ Văn Hoàng P đang có hành vi cất giấu 88 viên nén hình trụ tròn màu đỏ, có tổng khối lượng là 8,5847g là ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo Võ Văn Hoàng P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang truy tố bị cáo Võ Văn Hoàng P về hành vi phạm tội như trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Võ Văn Hoàng P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, tàng trữ trong người số lượng lớn ma túy. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến chế độ quyền độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, làm phát sinh các loại tội phạm khác nên cần thiết phải xử lý thật nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo Võ Văn Hoàng P không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ cở khung hình phạt quy định, xét cần thiết phải cách ly bị cáo Võ Văn Hoàng P ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, trở thành công dân tốt cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[5] Về xử lý vật chứng:

Ma túy là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của giám định viên Trần N, 02 chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 02 dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “H2 mẫu vật vụ Võ Văn Hoàng P, bắt ngày 24/4/2024”, số lượng: 1 cái.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu S A13, màu đen số Imei 1: 352303780806065, số I: 2: 358889660806062, lắp sim V1 số: 0342798926, đã qua sử dụng; là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo Võ Văn Hoàng P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Võ Văn Hoàng P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

1. Căn điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Văn Hoàng P 05 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù, kể từ ngày tạm giữ 25/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 gói niêm phong kín bằng giấy trắng và băng keo trong, bên ngoài có 02 chữ ký của giám định viên Trần N, 02 chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 02 dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh T và dòng chữ “H2 mẫu vật vụ Võ Văn Hoàng P, bắt ngày 24/4/2024”, số lượng: 1 cái.
  • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu S A13, màu đen số Imei 1: 352303780806065, số I: 2: 358889660806062, lắp sim V1 số:0342798926, đã qua sử dụng, số lượng: 1 Chiếc.

Tất cả các vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Võ Văn Hoàng P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

Lê Thúc Mỹ

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND tỉnh TT-Huế;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh TT-Huế;
  • - VKSND huyện Phú Vang;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Phú Vang;
  • - CQĐT Công an huyện Phú Vang;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Vang;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: HSVA, HCTP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn Hoàng Phúc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger