Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI

Bản án số: 31/2024/DSST

Ngày 30/9/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tú

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy Dương và bà Đào Thị Minh Nguyệt.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Đức Thuận, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây tham gia phiên toà:

Bà Ngô Thị Minh Thuận, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 31/2024/TLST-DS ngày 14 tháng 05 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 15/2024/QĐST-DS ngày 10 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng N1;
  2. Địa chỉ Trụ sở: Số B L, phường T, B, Hà Nội.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Vũ Thị Thu T - Cán bộ pháp chế A1 chi nhánh H2; (Có mặt).

  3. Bị đơn:
    1. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
    2. Anh Trần Quang V1, sinh năm 1973; có mặt.

    Địa chỉ: Tổ dân phố C, P, phường V, S, Hà Nội.

  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Đăng L, sinh năm 1946; Vắng mặt
    2. Bà Khuất Thị T1, sinh năm 1946; Có mặt
    3. Anh Nguyễn Đăng H, sinh năm 1976; (con ông L); Có mặt
    4. Chị Chu Thị T2, sinh năm 1979; (vợ anh H); Có mặt
    5. Cháu Nguyễn Thị H1, sinh năm 2001; (Con anh H) Vắng mặt
    6. Cháu Nguyễn Trung K, sinh năm 2005; (Con anh H) Vắng mặt
    7. Anh Nguyễn Đăng S, sinh năm 1982; (con ông L); Có mặt
    8. Chị Hoàng Thu O, sinh năm 1988; (vợ anh S) Vắng mặt
    9. Cháu Nguyễn Đại D, sinh năm 2006; (Con anh S) Vắng mặt
    10. Cháu Nguyễn Châu A, sinh năm 2014; (Con anh S) Vắng mặt

    Người đại diện theo pháp luật của cháu Châu A là anh Nguyễn Đăng S (cha) và chị Hoàng Thu O (mẹ).

    Cùng địa chỉ: T, phường V, S, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
  2. Bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 đã ký Hợp đồng tín dụng số 2203LAV201200275 ngày 17/02/2012 với A1 Chi nhánh S1 (nay là A1 Chi nhánh H2) – PGD Văn Miếu. Theo đó, A1 cho bà N và ông V1 vay số tiền là 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng); phương thức cho vay: từng lần; mục đích sử dụng vốn vay: mua vật tư lắp đặt hệ thống điện chiếu sáng theo hợp đồng; thời hạn cho vay là 12 tháng từ ngày 17/02/2012 đến ngày 17/02/2013. Ngày 17/02/2012, bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 đã nhận số tiền vay là 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng).

    Biện pháp bảo đảm: Ông Nguyễn Đăng L và bà Khuất Thị T1 đã tự nguyện ký Hợp đồng thế chấp số 1540 HĐ/CC ngày 29/7/2010 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp số 104HĐ/CC ngày 16/02/2012 với A1 Chi nhánh H2 – PGD Văn Miếu, tự nguyện dùng tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay của của bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 tại A1 Chi nhánh H2 - PGD V. Thông tin tài sản theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 782519, số vào sổ cấp giấy chứng nhận số H 00081 do UBND thị xã S cấp ngày 05/08/2005 thì tài sản là nhà và đất thuộc quyền sử dụng của ông L1 và bà T1; cụ thể như sau:

    • - Thửa đất số 199; tờ bản đồ số 12; diện tích khuôn viên đất: 216m2; loại đất: đất ở tại nông thôn; thời hạn sử dụng: lâu dài; địa chỉ: Thôn T, V, S, Hà Nội.
    • - Tài sản gắn liền với đất là 02 nhà ở:
      • + 01 nhà 02 tầng; diện tích: 110m2, kết cấu nhà: bê tông.
      • + 01 nhà 01 tầng; diện tích: 50m2, kết cấu nhà: cấp 4.

    Vi phạm nghĩa vụ: Tính đến ngày 12/08/2024 là: 7.050.854.280 đồng (Bảy tỉ, không trăm năm mươi triệu, tám trăm năm mươi tư nghìn, hai trăm tám mươi đồng), trong đó nợ gốc là: 2.860.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.850.074.087 đồng, nợ lãi quá hạn 1.340.280.193 đồng. A1 Chi nhánh H2 đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có biên bản đôn đốc yêu cầu bà Nguyễn Thị N, ông Trần Quang V1, ông Nguyễn Đăng L và bà Khuất Thị T1, thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp đã ký. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị N, ông Trần Quang V1, ông Nguyễn Đăng L và bà Khuất Thị T1 không thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho A1, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ đã cam kết với A1, không phối hợp xử lý tài sản bảo đảm làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của A1 gây khó khăn lớn cho công tác thu hồi vốn của Nhà nước và quá trình xử lý, thu hồi nợ của A1.

    A1 đã có Đơn khởi kiện gửi Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây để khởi kiện bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1. A1 đề nghị Tòa án giải quyết các các yêu cầu sau:

    1. Tuyên buộc bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A1 toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 7.102.695.944 đồng (Bảy tỉ, một trăm linh hai triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn, chín trăm bốn bốn đồng), trong đó nợ gốc là: 2.860.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.884.635.196 đồng, nợ lãi quá hạn 1.357.560.748 đồng.
    2. Tuyên buộc bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế ông bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 trả hết nợ gốc cho A1.
    3. T3 nếu bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A1 thông qua A1 Chi nhánh H2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
    4. T3 nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho A1 thì A1 thông qua A1 Chi nhánh H2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
  3. Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 trình bày:
  4. Năm 2012, Công ty cổ phần T4; Địa chỉ: Số A N, quận T, Hà Nội, do ông Nguyễn Văn C làm giám đốc có đến gặp chị N và nhờ chị vay số tiền 3.000.0000 đồng. Chị N nói không thể vay số tiền nhiều như thế, nhưng anh C nói sẽ cung cấp hồ sơ với phía Ngân hàng nên chị N đồng ý. Đến ngày 17/02/2012, chị N ký hợp đồng vay tiền với Ngân hàng N1-Phòng G số tiền vay 3.000.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng vay tiền, Phòng G yêu cầu chị N đến Ngân hàng N1 chi nhánh thị xã S1 để thực hiện một số thủ tục sau đó mới chuyển tiền về Phòng G. Đến rất muộn buổi chiều hôm sau, thì chị N mới nhận đủ số tiền. Toàn bộ số tiền 3.000.000.000 đồng chị N vay, ông C sử dụng toàn bộ.

    Đến nay, Ngân hàng khởi kiện ra Toà, chị đề nghị ông C phải có trách nhiệm trả số nợ trên cho Ngân hàng.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đăng L và bà Khuất Thị T1 trình bày:
  6. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án đối với ông L và bà T1, để người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết những vấn đề cụ thể mà nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết và trình bày ý kiến của mình. Tuy nhiên, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã không đến Tòa án để làm bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình với nguyên đơn, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không đưa ra yêu cầu độc lập. Tại phiên tòa bà T1 trình bày ý kiến không nhất trí xử lý tài sản bảo đảm của gia đình bà, vì bà bị Ngân hàng và chị N, anh Vĩnh L2 ký Hợp đồng công chứng.

  7. Tại đơn khiếu nại, quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng anh Nguyễn Đăng H, chị Chu Thị T2 và vợ chồng anh Nguyễn Đăng S, chị Hoàng Thu O trình bày:
  8. Bố mẹ anh chị là ông Nguyễn Đăng L và bà Khuất Thị T1 có thửa đất số 199, tờ bản đồ số 12, tại khu phố T, phường V, S, Hà Nội. Thửa đất này do anh H và anh S sinh sống và cư trú từ khoảng năm 2004 đến nay. Trong khoảng năm 2004, ông L bà T1 có cho anh H và anh S mỗi người một nửa thửa đất trên để ở và kinh doanh. Năm 2009, ông L bà T1 đã viết giấy tặng cho anh H và anh S mỗi người một nửa thửa đất số 199, tờ bản đồ số 12, được hàng xóm liền kề thửa đất ký làm chứng. Anh H và anh S đã xây nhà kiên cố và cùng vợ và các con sinh sống ổn định từ đó đến nay.

    Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu chị N hoàn trả số tiền vay, anh chị em cùng có ý kiến là không đồng ý cho Ngân hàng phát mại tài sản.

  9. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm ý kiến:
  10. Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án. Các đương sự trong vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án triệu tập nhiều lần không đến.

    Về nội dung đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn :

    Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho A1 toàn bộ số tiền tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 7.102.695.944 đồng (Bảy tỉ, một trăm linh hai triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn, chín trăm bốn bốn đồng), trong đó nợ gốc là: 2.860.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.884.635.196 đồng, nợ lãi quá hạn 1.357.560.748 đồng.

    Buộc bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án ra bản án/quyết định cho đến ngày thực tế ông bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 trả hết nợ gốc cho A1.

    Nếu bà Nguyễn Thị N và ông Trần Quang V1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì A1 thông qua A1 Chi nhánh H2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. . Về tố tụng:
    1. Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng N1 khởi kiện chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng là tranh chấp dân sự về hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
    2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng N1 khởi kiện vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng với chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 đều có nơi cư trú tại thị xã S, H. Căn cứ theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
    3. . Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. . Về nội dung:
    1. . Đối với lời trình bày của chị N về việc Công ty cổ phần T4 do ông Nguyễn Văn C làm giám đốc đến gặp chị N và nhờ chị vay số tiền 3.000.0000 đồng tại Ngân hàng. Sau đó, toàn bộ số tiền 3.000.000.000 đồng chị N vay, ông C sử dụng toàn bộ: Xét thấy, tại Giấy đề nghị vay vốn ngày 16/02/2012, Hợp đồng tín dụng số 2203LAV201200275 ngày 17/02/2012 và Phụ lục hợp đồng, chị N là người đề nghị vay vốn, người ký kết hợp đồng tín dụng và là người nhận số tiền vay 3.000.000.000 đồng. Nên Ngân hàng yêu cầu vợ chồng chị N thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng là có cơ sở.
    2. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 yêu cầu chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng:

      Hợp đồng tín dụng số 2203LAV201200275 ngày 17/02/2012 và Phụ lục hợp đồng giữa Ngân hàng với chị N, anh V1 được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên cho vay là Ngân hàng và bên vay là chị N, anh V1. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng tín dụng có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng, bên cho vay là Ngân hàng đã giải ngân, chị N, anh V1 đã nhận đủ số tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo hợp đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng chị N, anh V1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, anh chị thực hiện không đúng nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng số 2203LAV201200275 ngày 17/02/2012 và Phụ lục hợp đồng. Do vậy, việc Ngân hàng đã khởi kiện yêu cầu chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 thanh toán toàn bộ khoản nợ là phù hợp với thỏa thuận của hai bên theo Hợp đồng tín dụng và khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.

      Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 thanh toán cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến hết ngày 30/9/2024 là: 7.102.695.944 đồng (Bảy tỉ, một trăm linh hai triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn, chín trăm bốn bốn đồng), trong đó nợ gốc là: 2.860.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.884.635.196 đồng, nợ lãi quá hạn 1.357.560.748 đồng. Và kể từ ngày 01/10/2024, chị N và anh V1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng cho đến ngày thực tế anh chị trả hết nợ gốc cho Ngân hàng là có cơ sở và phù hợp với Hợp đồng tín dụng đã ký cũng như phù hợp với các quy định tại Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

    3. Xét yêu cầu đề nghị xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 199; tờ bản đồ số 12; diện tích 216 m2; địa chỉ T, phường V, S, Hà Nội. Theo giấy chứng nhận QSDĐ số AB 782519, số vào sổ cấp GCN: H00081, do UBND thị xã S, Hà Nội cấp ngày 05/08/2005 đứng tên Ông Nguyễn Đăng L và Bà Khuất Thị T1. Tài sản thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của Pháp luật.
    4. Đối với lời trình bày của vợ chồng anh Nguyễn Đăng H và vợ chồng anh Nguyễn Đăng S là: Trong khoảng năm 2004, ông Nguyễn Đăng L và bà Khuất Thị T1 có cho anh H và anh S mỗi người một nửa thửa đất số 199, tờ bản đồ số 12 để ở và kinh doanh. Năm 2009, ông L bà T1 đã viết giấy tặng cho anh H và anh S mỗi người một nửa thửa đất trên. Anh H và anh S đã xây nhà kiên cố và cùng vợ và các con sinh sống ổn định từ đó đến nay.

      Xét, thửa đất số 199; tờ bản đồ số 12 được UBND thị xã S, Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Đăng L và bà Khuất Thị T1. Ngoài ra, anh Nguyễn Đăng S cung cấp Giấy tặng cho con trai đất ở ngày 18/02/2009, thể hiện ông L và bà T1 tặng cho anh S một nửa diện tích của thửa đất số 199; tờ bản đồ số 12. Tuy nhiên, Giấy tặng cho không được công chứng, chứng thực và đăng ký nên Giấy tặng cho con trai đất ở không phát sinh hiệu lực theo Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005. Anh Nguyễn Đăng H không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc ông L và bà T1 tặng cho quyền sử dụng đất.

      Theo Giấy phép xây dựng số 148/GP-XD ngày 30/03/2012 do UBND thị xã S, Hà Nội cấp cho ông Nguyễn Đăng L, cho phép ông L xây dựng 02 ngôi nhà trên thửa đất số 199; tờ bản đồ số 12, theo giấy chứng nhận QSDĐ số AB 782519, số vào sổ cấp GCN: H00081, do UBND thị xã S, Hà Nội cấp ngày 05/08/2005. Mặt khác, theo Điều 2 hợp đồng thế chấp ghi nhận tài sản thế chấp là nhà và thửa đất thuộc quyền sử dụng của bên A (ông L, bà T1). Do đó, lời trình bày của anh H và anh S đã xây nhà kiên cố trên thửa đất số 199, tờ bản đồ số 12 là không có cơ sở.

      Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng trong trường hợp chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ: Xét Hợp đồng thế chấp số 1540HĐ-TC ngày 29/07/210 và Phụ lục Hợp đồng thế chấp số 104/HĐ-CC ngày 16/02/2012 được ký giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng với bên thế chấp là ông L, bà T1. Hợp đồng được ký bởi người đại diện hợp pháp của bên nhận thế chấp với bên thế chấp là chủ sở hữu tài sản hợp pháp. Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích được thực hiện quyền nghĩa vụ của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Do đó, hợp đồng thế chấp có hiệu lực buộc các bên phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại hợp đồng.

  3. . Về án phí: chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 phải chịu án phí Theo quy định của pháp luật. Hoàn trả Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005; Điều 117, 298, 299, 317, 320, 323, 325, 401 và 463 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 đối với bị đơn chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1.

  1. Buộc chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 phải thanh toán cho Ngân hàng N1 tổng số tiền tạm tính đến hết ngày 30/9/2024 là: 7.102.695.944 đồng (Bảy tỉ, một trăm linh hai triệu, sáu trăm chín mươi lăm nghìn, chín trăm bốn bốn đồng), trong đó nợ gốc là: 2.860.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn 2.884.635.196 đồng, nợ lãi quá hạn 1.357.560.748 đồng.
  2. Kể từ ngày 01/10/2024, chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
  3. Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, nếu chị N và anh V1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng N1, thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 199; tờ bản đồ số 12; diện tích 216m2; địa chỉ T, phường V, S, Hà Nội. Theo giấy chứng nhận QSDĐ số AB 782519, số vào sổ cấp GCN: H00081, do UBND thị xã S, Hà Nội cấp ngày 05/08/2005 đứng tên Ông Nguyễn Đăng L và Bà Khuất Thị T1. Tài sản gắn liền với đất là 01 nhà 02 tầng; diện tích: 110m2, kết cấu nhà: bê tông và 01 nhà 01 tầng; diện tích: 50m2, kết cấu nhà: cấp 4. (diện tích và hiện trạng theo thực tế khi cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, xử lý tài sản bảo đảm). Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của chị N và anh V1 đối với Ngân hàng N1. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết toàn bộ khoản nợ, thì chị N và anh V1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng N1.
  4. Về án phí: chị Nguyễn Thị N và anh Trần Quang V1 phải chịu 115.102.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng N1 57.400.000 đồng tiền tạm ứng án phí Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng số AA/2020/0000913 ngày 14/5/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thị xã Sơn Tây.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND TX Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị Tú

9

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/DSST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng.

  • Số bản án: 31/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NH A khởi kiện ông N, bà V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger