|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 26 - 9 - 2024
V/v "Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung,
đòi lại tài sản"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Thẩm phán: Bà Đinh Cẩm Đào
Ông Đặng Minh Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 28/2024/TLPT-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, đòi lại tài sản”.
Do bản hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 234/2024/HNGĐ-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 32/2024/QĐXX-PT ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Nguyễn Thị Phúc, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp Ông Bích, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Bị đơn: Nguyễn Quốc Nhựt, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp Chống Mỹ, Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn Bình, sinh năm 1955
- Bà Phạm Ngọc Anh, sinh năm 1964.
Cùng địa chỉ: Ấp Chống Mỹ, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Bình, bà Anh: Ông Châu Thanh Dũng, sinh năm 1961; Địa chỉ số: 177H, Nguyễn Trung Trực, Khóm 1, phường 8, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Ông Lê Hoàng Khang
- Ông Nguyễn Quốc Trung (có mặt)
- Ông Phạm Văn Thôi
Cùng địa chỉ: ấp Ông Bích, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời.
- Ông Nguyễn Văn Tân
- Ông Lưu Văn Nhu
- Bà Đào Diễm Thuý
- Ông Trần Văn Định
- Ông Nguyễn Thanh Cần
- Bà Trịnh Thuý Quyên
- Bà Trần Hồng Thu Tâm
Cùng địa chỉ: Ấp Chống Mỹ, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời
- Ông Trần Văn Dần
- Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm
Địa chỉ: Ấp 19/5 xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Quốc Nhựt, là bị đơn và ông Châu Thanh Dũng, là người đại diện hợp pháp của ông Bình, bà Anh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phúc trình:
- Về hôn nhân và con chung: Bà và ông Nhựt sống chung như vợ chồng bên Hàn Quốc từ tháng 9/2020, sau đó về nước Việt Nam làm lễ cưới vào tháng 03/2022 đến ngày 05/9/2022 đăng ký kết hôn tại UBND xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà mau, hôn nhân tự nguyện, thời kỳ chung sống tạo 01 con chung tên Nguyễn Gia Tuệ Lâm, sinh ngày 19/7/2022 cháu hiện bà đang nuôi dạy. Do vợ chồng mâu thuẫn nên bà yêu cầu ly hôn với ông Nhựt, yêu cầu nuôi con, yêu cầu ông Nhựt cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Thời kỳ chung sống không có tài sản chung, nợ chung.
- Về tài sản riêng, bà Phúc xác định bà đã bỏ tiền ra mua các tài sản và có yêu cầu như sau:
- + 01 phần đất diện tích 806,4m² thửa số 911 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 212196 ngày 21/9/2017 của UBND huyện Trần Văn Thời cấp cho bà Lê Thị Dung, được điều chỉnh sang tên Nguyễn Quốc Nhựt và bà Nguyễn Thị Phúc ngày 23/9/2022; nay thuộc thửa số 506 tờ bản đồ số 5 – bản đồ thành lập năm 2002, diện tích theo đo đạc thực tế 649,7m² (ngang 19m). Phần đất này là phần đất bà nhờ bà Anh (mẹ chồng) đứng tên dùm, tiền là do bà đưa cho bà Diễm (chị ruột của bà) trả trực tiếp cho ông Đua. Bà đồng ý cho lại ông Nhựt diện tích chiều ngang 5m, buộc ông Nhựt phải trả lại cho bà chiều ngang 14m.
- - 01 xe Honda SH trị giá 88.880.000 đồng, 01 chiếc CBR trị giá 48.380.000 đồng, 01 xe máy Wave trị giá 17.200.000 đồng, bà là người đưa tiền mua 03 chiếc xe, đây là tiền riêng của bà đưa ra cho ông Nhựt đứng tên. Bà yêu cầu ông Nhựt trả lại cho bà chiếc SH, còn 02 chiếc xe còn lại thì bà cho ông Nhựt.
- - 01 số vật dụng trong phòng: 01 máy lạnh hiệu AQUA, 01 máy lọc nước hiệu MUTOSI, 01 giường ngủ, 01 tủ áo, 01 giá võng và 01 bàn trang điểm, tổng trị giá 28.870.000 đồng, bà xác định những tài sản này được mua từ tiền riêng của bà. Bà đồng ý cho ông Nhựt 01 giường ngủ, các tài sản còn lại bà yêu cầu ông Nhựt phải hoàn lại toàn bộ giá trị cho bà.
- Đối với phần người khác nợ như lời trình bày của ông Nhựt, nhưng số tiền cho vay là tiền riêng của bà, nay những người này đã trả hết cho bà và bà đã sử dụng chỉ xài cho việc nuôi con và sinh sống của hai mẹ con. Tất cả các khoản người khác nợ là tiền riêng của bà nên bà không đồng ý chia cho ông Nhựt. Riêng đối với số tiền mà ông Tâm, bà Tân nợ bà thì bà không đòi được do ông Nhựt ngăn cản, do đó bà đồng ý cho lại ông Nhựt số tiền này là 37.000.000 đồng, đồng thời bà đồng ý tự nguyện giao tiếp cho ông Nhựt 13.000.000 đồng, tổng cộng số tiền là 50.000.000 đồng như văn bản thỏa thuận tài sản trước đây của hai vợ chồng.
- - Ngoài ra, vào năm 2021 bà có suất tiền làm sửa nhà, phòng ngủ, lát gạch, sửa lót gạch vòng nhà, tol số tiền 496.000.000 đồng và tiền làm cầu vệ sinh 29.524.800 đồng, tại đơn khởi kiện bổ sung bà yêu cầu ông Bình, bà Anh, ông Nhựt trả lại số tiền này. Tại phiên tòa, bà xin rút lại yêu cầu.
- Đối với số tiền bà cho mẹ chồng là bà Phạm Ngọc Anh mượn 165.000.000 đồng, tại đơn khởi kiện bổ sung bà có yêu cầu bà Anh trả lại, Tại phiên tòa, bà xin rút lại yêu cầu.
Bị đơn ông Nguyễn Quốc Nhựt trình bày:
- Về hôn nhân, con chung: Ông Nhựt thống nhất lời trình bày của nguyên đơn là đúng, về hôn nhân có đăng ký theo quy định của pháp luật, con chung có 01 đứa con chung hiện do bà Phúc nuôi dạy. Nay đồng ý ly hôn với bà Phúc, đồng ý giao con chung cho bà Phúc nuôi nhưng đến khi bà Phúc đi nước ngoài phải giao lại cho ông nuôi, đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản:
- + Về phần đất diện tích 806,4m² (đo đạc thực tế 649,7m² (ngang 19m) phần đất này là của bà Anh và ông Bình là cha mẹ của ông cho vợ chồng ông mượn đứng tên vay vốn ngân hàng để làm vốn kinh doanh nên cha mẹ ông ký hợp đồng tặng cho ông và Phúc phần đất nêu trên. Phần đất này không phải là tài sản riêng của bà Phúc; cũng không phải tài sản chung của vợ chồng ông bà. Ông thống nhất với yêu cầu của ông Bình, bà Anh về việc hủy bỏ Hợp đồng tặng cho phần đất này, đồng ý trả lại cho ông Bình và bà Anh.
- + Đối với 03 chiếc xe như bà Phúc nêu, thì 03 chiếc xe này là tài sản riêng của cha mẹ là ông Bình, bà Anh cho tiền ông mua trước khi kết hôn, nên đây là tài sản của cha mẹ ông, không phải là tài sản chung của vợ chồng, nên không đồng ý theo yêu cầu của bà Phúc.
- + Đối với những vật dụng trong phòng: 01 máy lạnh hiệu AQUA, 01 máy lộc nước hiệu MUTOSI, 01 giường ngủ, 01 tủ áo, 01 giá võng và 01 bàn trang điểm, tổng trị giá 28.870.000 đồng, đây là tài sản chung của vợ chồng, ông đồng ý nhận hiện vật, đồng ý hoàn lại cho bà Phúc ½ giá trị.
- + Đối với những khoản tiền vợ chồng đã cho người khác vay tổng số tiền 447.000.000 đồng, đây là tiền chung của vợ chồng, cụ thể: Ông Võ Văn Cường, Đào Diễm Thúy vay 100.000.000 đồng ngày 30/3/2022; Ông Trần Văn Định vay số tiền 50.000.000 đồng ngày 25/4/2022; Bà Trịnh Thuý Quyên vay số tiền 20.000.000 đồng ngày 01/7/2022; Ông Trần Văn Dần vay số tiền 10.000.000 đồng ngày 13/4/2022; Ông Nguyễn Thanh Cần vay số tiền 20.000.000 đồng ngày 04/04/2022; Ông Lê Hoàng Khang vay 200.000.000 đồng ngày 01/8/2022. Các khoản tiền trên được các người nợ trả cho vợ ông. Còn vợ chồng bà Tâm, ông Tân chưa trả 37.000.000đ; ông Khang chưa trả 200.000.000đ, yêu cầu bà Tâm, ông Tân, ông Khang trả cho vợ chồng ông. Yêu cầu chia đôi số tiền 447.000.000 đồng, mỗi người được nhận 223.500.000đ. Tại phiên tòa, ông Nhựt đồng ý nhận khoản tiền đòi ông bà Tâm, ông Tân 37.000.000đ, số còn lại yêu cầu bà Phúc giao lại cho ông.
- Người đại diện theo uỷ quyền của ông Bình và bà Anh do ông Châu Thanh Dũng – đại diện theo ủy quyền trình bày: Là phần đất ông Bình và bà Anh đứng ra nhận chuyển nhượng của ông Phan Văn Đua và được đứng tên ngày 14/6/2021, phần này không liên quan gì với Phúc và Nhựt, sau khi Phúc và Nhựt mua bán điện thoại di động và cho vay cần số vốn nên mượn sổ để vay, ông Bình bị bệnh đi lại khó khăn nên Nhựt yêu cầu ông Bình và bà Anh làm hợp đồng tặng cho để thuận tiện làm thủ tục vay vốn, sau khi làm hợp đồng tặng cho xong thì xảy ra tranh chấp nên chưa vay vốn kéo dài đến nay. Vào ngày 08/9/2022 khi làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không có mặt ông Bình vì lúc ông Bình bệnh nên đưa cho Nhựt và Phúc đem hợp đồng về ký tại nhà và thủ tục ký biến động cũng ký tại nhà. Nay yêu cầu Tòa án hủy bỏ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/9/2022 giữa ông Bình, bà Anh tặng cho ông Nhựt và bà Phúc.
Phần tiền bà Phúc đưa sửa chửa nhà, sân là không có. Bà Anh không có mượn của Phúc 165.000.000 đồng. Do đó, ông Bình, bà Anh không đồng ý trả cho bà Phúc như bà Phúc yêu cầu.
- Ông Lê Hoàng Khang trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 24/4/2024: Ngày 01/8/2022 ông trực tiếp vay của Nguyễn Thị Phúc số tiền 200.000.000 đồng, không vay của Nguyễn Quốc Nhựt. Ông đã trả cho Phúc xong vào năm 2022 nhưng không nhớ thời gian. Yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt ông.
- Bà Trần Hồng Thu Tâm trình bày tại biên bản ngày 22/11/2023: Tháng 4/2022 tôi hỏi Nhựt 37.000.000đ, nhưng Phúc đưa tiền, đến nay chưa trả.
- Ông Nguyễn Thanh Cần trình bày tại biên bản xác minh ngày 22/11/2023: Tháng 03/2022 tôi có hỏi của ông Nhựt 20.000.000đ, sau đó có trả cho Phúc xong cả vốn và lãi.
- Ông Trần Văn Định trình bày tại biên bản ngày 22/11/2023: Ngày 25/4/2022 ông có hỏi của bà Phúc 50.000.000 đồng, có trả lãi cho Phúc nhưng không nhớ bao nhiêu, hiện nay chỉ còn nợ khoảng 40.000.000 đồng. Theo ông biết thì số tiền này của bà Phúc chứ không phải của ông Nhựt, thống nhất trả cho Phúc.
- Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm trình bày tại biên bản làm việc ngày 12/3/2024 trình bày: Theo bà biết trước đây Phúc là em ruột của bà ở Hàn Quốc có mượn mẹ chồng tên Anh mua phần đất của ông Phan Văn Đua diện tích ngang 19 mét dài 39,27 mét với giá 1.030.000.000 đồng, lần đầu đặt cọc bà không biết nhưng lần sau Phúc gửi về bà cầm tiền 400.000.000 đồng đưa cho ông Đua 380.000.000 đồng còn lại 20.000.000 đồng, bà trả cho bà Anh số tiền bà Anh cầm đồ nên bà trả lại để bà Anh chuộc đồ lại, lần thứ 2 bà cũng rút ngân hàng tiền Phúc gửi về chung cho ông Đua 200.000.000 đồng, lần cuối cùng còn lại bà đi rút tiền về ghé chung đủ số tiền là 430.000.000 đồng, tổng cộng 1.030.000.000 đồng, các lần chồng giấy 500.000 đồng, giấy 200.000 đồng, giấy 50.000 đồng.
Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 234/2024/HNGĐ-ST ngày 12/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, 217, Điều 227, 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, 2 Điều 59, Điều 62, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Phúc được ly hôn với ông Nguyễn Quốc Nhựt.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia Tuệ Lâm, sinh ngày 19/7/2022 cho bà Nguyễn Thị Phúc trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ông Nguyễn Quốc Nhựt có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ ngày 12/6/2024 đến khi cháu Tuệ Lâm tròn 18 tuổi; Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung, không ai có quyền ngăn cản.
Về Tài sản:
- Chia cho bà Nguyễn Thị Phúc được hưởng các tài sản sau:
- + Phần đất diện tích 479,8m² (ngang 14 mét) thuộc một phần thửa số 506 tờ bản đồ số 5 – bản đồ thành lập năm 2002, toạ lạc tại ấp Rạch Bào, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (Phần đất được tính từ M1 đo về hướng M2 lấy 14 mét ngang và từ M4 đo về hướng M3 lấy 14 mét ngang).
- + 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát: 69N1-782.66, xe hiện ông Nhựt đang quản lý, buộc ông Nhựt giao lại cho bà Phúc quản lý sử dụng.
- + Giá trị ½ tài sản (01 máy lạnh AQUA, 01 máy lọc nóng lạnh MUTOSI, 01 giường ngủ, 01 tủ áo; 01 giá võng, 01 bàn trang điểm) số tiền 14.435.000 đồng. Ông Nhựt đang quản lý hiện vật nên buộc ông Nhựt giao lại cho bà Phúc số tiền 14.435.000 đồng.
- Chia cho ông Nguyễn Quốc Nhựt được hưởng các tài sản sau:
- + Đất diện tích 169,9 m² (ngang 05 mét) thuộc một phần thửa số 506 tờ bản đồ số 5 – bản đồ thành lập năm 2002, toạ lạc tại ấp Rạch Bào, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (Phần đất được tính từ M2 đo về hướng M1 lấy 05 mét ngang và từ M3 đo về hướng M4 lấy 05 mét ngang).
- + 01 xe máy nhãn hiệu BCR biển kiểm soát: 69N1-760.84.
- + 01 xe máy nhãn hiệu honda Wave RSX biển kiểm soát: 69N1-761.76.
- + 01 máy lạnh AQUA, 01 máy lọc nóng lạnh MUTOSI, 01 giường ngủ, 01 tủ áo; 01 giá võng, 01 bàn trang điểm (trong đó giá trị được chia với số tiền 14.435.000 đồng). Các hiện vật này ông Nhựt đang quản lý, nay được tiếp tục quản lý, sử dụng.
- + Buộc bà Trần Hồng Thu Tâm và ông Nguyễn Văn Tân có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Quốc Nhựt số tiền 37.000.000 đồng.
- + Buộc bà Phúc có nghĩa vụ giao lại cho ông Nhựt 13.000.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Phúc và ông Nguyễn Quốc Nhựt được thực hiện quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn Phúc về việc yêu cầu đòi ông Bình, bà Anh, anh Nhựt trả lại số tiền sửa chữa nhà, phòng ngủ, lát gạch, sửa lót gạch vòng nhà, tol, tiền làm cầu vệ sinh tổng số tiền 525.524.800 đồng.
- Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn Phúc về việc yêu cầu đòi bà Anh trả số tiền 165.000.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Bình, bà Anh về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/9/2022 giữa bà Anh, ông Bình với ông Nhựt, bà Phúc.
- Không chấp nhận một phần ông Nguyễn Quốc nhựt yêu cầu bà Nguyễn Thị Phúc về việc yêu cầu hưởng ½ (một phần hai) số tiền 173.500.000 đồng (tiền người khác nợ).
(Kèm theo Trích đo hiện trạng ngày 30/5/2023 của Công ty TNHH Phát triển xanh Việt Nam).
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.
Ngày 25/6/2024, bị đơn ông Nguyễn Quốc Nhựt kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, phân chia tài sản chung theo đúng quy định pháp luật.
Ngày 26/6/2024, Ông Châu Thanh Dũng là người đại diện theo ủy quyền của ông Bình, bà Ngọc Anh kháng cáo, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/9/2022 giữa ông Bình, bà Ngọc Anh với ông Nhựt, bà Phúc, trả lại phần đất cho ông Bình, bà Ngọc Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.
Về nội dung: Áp dụng 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quốc Nhựt, ông Nguyễn Văn Bình, bà Phạm Ngọc Anh.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên toà phúc thẩm ông Nguyễn Quốc Nhựt vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, ông Nhựt cho rằng bà Phúc thừa nhận số tiền ông làm việc ở Hàn Quốc là 600.000.000 đồng được chuyển vào tài khoản của bà Phúc, ông có gửi về cho mẹ của ông là 136.000.000 đồng, còn lại 464.000.000 đồng dùng để cho vay, cấp sơ thẩm xác định số tiền cho vay là của riêng bà Phúc nhưng không xem xét số tiền riêng của ông do bà Phúc giữ là thiếu sót. Về quyền sử dụng đất là do cha mẹ cho chung vợ chồng thì xem xét công sức của ông nhiều hơn.
Người đại diện hợp pháp của ông Bình, bà Ngọc Anh vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/9/2022 giữa ông Bình, bà Ngọc Anh với ông Nhựt, bà Phúc, trả lại phần đất cho ông Bình, bà Ngọc Anh với lý do cho mượn.
[2] Xem xét nội dung kháng cáo của ông Nhựt thấy rằng: Tại phiên toà bà Phúc cho rằng các khoản nợ là do bà trực tiếp cho vay, nguồn tiền riêng của bà, nguồn tiền của ông Phúc chuyển vào tài khoản của bà thì ông Phúc đã sử dụng chi sài cá nhân, còn về phần đất do ông Bình bà Anh đứng tên là đất này do bà mua nên chuyển sang tên của bà và ông Nhựt.
Căn cứ vào chứng cứ thể hiện tại hồ sơ thấy rằng:
Theo bản án sơ thẩm nhận định do ông Nhựt và bà Phúc tự thoả thuận phân chia tài sản, việc ông Nhựt tự nguyện giao tài sản cho bà Phúc không ai ép buộc và cũng xác định là tài sản của bà Phúc nên mới thống nhất ký biên bản phân chia tài sản. Ông Nhựt cho rằng việc ký vào biên bản chỉ nhằm mục đích cho bà Phúc quay về sống chung với ông nhưng khi ký xong ngày 01/11/2022 thì ngày 02/11/2022 bà Phúc làm đơn gửi đến Toà xin ly hôn nên ông không thống nhất theo biên bản phân chia tài sản. Xét, mặt dù ông Nhựt có ký vào biên bản thoả thuận phân chia tài sản nhưng thời điểm này ông Nhựt và bà Phúc chưa ly hôn và tài sản là tài sản chung của vợ chồng nên không vì biên bản phân chia tài sản mà bản án cấp sơ thẩm giao tất cả các tài sản cho bà Phúc, cần phải xem xét đến nguồn gốc tài sản, xác định tài sản nào tài sản chung, tài sản nào là tài sản riêng để phân chia cho phù hợp.
Về khoản tiền vợ chồng đã cho người khác vay: Theo ông Nhựt trình bày tổng số tiền 447.000.000 đồng, cụ thể: Ông Võ Văn Cường, Đào Diễm Thúy vay 100.000.000 đồng ngày 30/3/2022; Ông Trần Văn Định vay số tiền 50.000.000 đồng ngày 25/4/2022; Bà Trịnh Thuý Quyên vay số tiền 20.000.000 đồng ngày 01/7/2022; Ông Trần Văn Dần vay số tiền 10.000.000 đồng ngày 13/4/2022; Ông Nguyễn Thanh Cần vay số tiền 20.000.000 đồng ngày 04/04/2022; Ông Lê Hoàng Khang vay 200.000.000 đồng ngày 01/8/2022. Các khoản tiền trên được các người nợ trả cho vợ ông. Còn vợ chồng bà Tâm, ông Tân chưa trả 37.000.000 đồng; ông Khang chưa trả 200.000.000 đồng, yêu cầu bà Tâm, ông Tân, ông Khang trả cho vợ chồng ông. Yêu cầu chia đôi số tiền 447.000.000 đồng, mỗi người được nhận 223.500.000 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nhựt đồng ý nhận khoản tiền đòi bà Tâm, ông Tân 37.000.000 đồng, số còn lại yêu cầu chị Phúc giao lại cho ông.
Căn cứ biên bản thoả thuận chia tài sản thể hiện ông Võ Văn Cường và bà Đào Diễm Thuý nợ vợ chồng ông Nhựt là 100.000.000 đồng thì ông Nhựt và bà Phúc thống nhất chia ½, mỗi người 50.000.000 đồng, đây là chứng cứ được bà Phúc thừa nhận nên ông Nhựt không cần phải chứng minh. Đối với khoản nợ ông Trần Văn Định vay số tiền 50.000.000 đồng ngày 25/4/2022, theo biên nhận thể hiện ông Định vay của Nhựt và Phúc (BL 324 A9), ông Nguyễn Thanh Cần vay số tiền 20.000.000 đồng ngày 18/3/2022 và ngày 04/04/2022, theo biên nhận thể hiện ông Cần vay của anh Nhựt 15.000.000 đồng ngày 18/3/2022 (BL324A6), vay của chị Phúc 5.000.000 đồng ngày 4/4/2022 (BL 324A7), bà Trần Hồng Thu Tâm vay tháng 4/2022 số tiền 37.000.000đ, biên nhận ngày 03/4/2022 thể hiện vay của Nhựt 27.000.000 đồng (BL 324A5). Theo bà Tâm khai số tiền này vay của ông Nhựt nhưng bà Phúc là người đưa tiền. Tất cả các khoản nợ này bà Phúc và ông Nhựt cho vay vào thời điểm ông Nhựt và bà Phúc đã tổ chức hôn lễ theo phong tục tại địa phương nhưng chưa đăng ký kết hôn, tiền chung và tiền riêng giữa ông Nhựt và bà Phúc chưa rõ ràng, tuy nhiên các biên nhận thể hiện có vay tiền từ bà Phúc và ông Nhựt nên chấp nhận kháng cáo của ông Nhựt số tiền trên là tài sản chung của ông Nhựt và bà phúc cho vay, được chia hai. Những người nợ bà Phúc và ông Nhựt thì bà Phúc thừa nhận đã trả hết cho bà, riêng bà Tâm chưa trả. Tổng số tiền là 207.000.000 đồng mỗi người được nhận 1/2, ông Nhựt đồng ý thu hồi nợ đối với bà Tâm, số còn lại là 66.500.000 đồng buộc bà Phúc giao trả lại cho ông Nhựt.
Đối với khoản tiền ông Lê Hoàng Khang vay 200.000.000 đồng ngày 01/8/2022 (BL 333), Bà Trịnh Thuý Quyên vay số tiền 20.000.000 đồng ngày 01/7/2022(BL 324A4); Ông Trần Văn Dần vay số tiền 10.000.000 đồng ngày 13/4/2022 (BL 324A10). Như nhận định trên mặc dù có tổ chức lễ cưới nhưng tiền chung của anh Nhựt và chị Phúc không rõ ràng, các biên nhận vay thể hiện tên bà Phúc nên không có căn cứ đây là số tiền chung của ông Nhựt và bà Phúc.
Về tài sản là 03 chiếc xe: 01 xe Honda SH trị giá 88.880.000 đồng, 01 chiếc CBR trị giá 48.380.000 đồng, 01 xe máy Wave trị giá 17.200.000 đồng, bà Phúc cho rằng bà là người đưa tiền mua 03 chiếc xe, đây là tiền riêng của bà đưa ra cho ông Nhựt đứng tên. Ông Nhựt cho rằng tiền mua xe là của cha mẹ đưa cho ông mua nên mới đứng tên của ông. Căn cứ vào biên bản thoả thuận chia tài sản thể hiện 03 chiếc xe là tài sản chung của ông Nhựt và bà Phúc nên cần chia đôi, giao cho bà Phúc xe Honda SH trị giá 88.880.000 đồng, giao cho ông Nhựt chiếc xe CBR trị giá 48.380.000 đồng, 01 xe máy Wave trị giá 17.200.000 đồng. Tổng giá trị 3 chiếc xe là 154.460.000 chia hai mỗi người được nhận 77.230.000 đồng, bà Phúc nhận chiếc xe trị giá 88.880.000 chênh lệch là 11.650.000 đồng. Buộc bà Phúc giao lại cho ông Nhựt 11.650.000 đồng.
Về tài sản 01 phần đất diện tích 806,4m² thửa số 911 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 212196 ngày 21/9/2017 của UBND huyện Trần Văn Thời cấp cho bà Lê Thị Dung, được điều chỉnh sang tên Nguyễn Quốc Nhựt và bà Nguyễn Thị Phúc ngày 23/9/2022; nay thuộc thửa số 506 tờ bản đồ số 5 – bản đồ thành lập năm 2002, diện tích theo đo đạc thực tế 649,7m² (ngang 19m). Phía ông Nguyễn Văn Bình và Phạm Ngọc Anh cho rằng tài sản này do vợ chồng bà chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Đua. Bà Phúc cho rằng phần đất này do bà chuyển tiền về cho chị của bà là Nguyễn Thị Kiều Diễm để trả tiền cho ông Đua. Ông Nguyễn Văn Đua trình bày ông Trung là cha của bà Phúc thoả thuận chuyển nhượng phần đất và thanh toán tiền cho ông, lần sau cùng là do chị Diễm con ông Trung thanh toán tiền cho ông (BL213), bà Diễm thì trình bày cha bà là ông Trung thoả thuận mua đất, các lần thanh toán đều do bà trực tiếp thanh toán cho ông Đua (BL 324). Bà Phúc trình bày bà gửi tiền cho mẹ chồng bà trả tiền mua đất (BL 13). Như vậy chỉ có một phần đất mà nguồn tiền thanh toán theo bà Phúc trình bày hoàn toàn mâu thuẫn với nhau. Phía ông Nhựt, bà Anh đều khẳng định bà Anh là người đi mua đất và thanh toán tiền cho ông Đua. Căn cứ vào biên nhận nhận tiền do ông Đua ký nhận thể hiện ông Đua nhận tiền từ bà Ngọc Anh. Do đó, có cơ sở bà Ngọc Anh và ông Bình là người chuyển nhượng đất từ ông Đua. Về việc bà Ngọc Anh và ông Bình cho rằng khi chuyển tên quyền sử dụng cho ông Nhựt và bà Phúc là nhằm mục đích cho mượn chứ không phải tặng cho. Căn cứ vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất (BL 321) và theo đơn kháng cáo của ông Nhựt khẳng định đã được ông Bình và bà Anh tặng cho nên đề nghị xem xét ông được nhận phần đất nhiều hơn nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Bình và bà Anh. Chấp nhận kháng cáo của ông Nhựt, xác định tài sản quyền sử dụng đất diện tích 806,4m², đo đạc thực tế là 649,7m² là tài sản do ông Nhựt và bà Phúc được tặng cho. Do tài sản được cha mẹ ông Nhựt tặng cho và thời gian bà Phúc về sống chung với ông Nhựt từ tháng 3/2023 đến tháng 10/2023 không còn sống chung nên chia cho ông Nhựt phần nhiều hơn, cụ thể ông Nhựt được nhận 10m ngang, diện tích 340,7m², bà phúc được nhận 09m ngang, diện tích 309m².
[4] Như nhận định trên, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quốc Nhựt là chưa phù hợp nên không được chấp nhận. Đối với đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Bình và bà Phạm Ngọc Anh được chấp nhận.
[5] Do chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Quốc Nhựt nên xem xét lại án phí sơ thẩm phía bà Phúc và ông Nhựt phải chịu án phí tương ứng với phần tài sản được nhận cụ thể:
Bà Nguyễn Thị Phúc phải chịu án phí hôn nhân gia đình 300.000 đồng và án phí chia tài sản theo quy định tại Nghị quyết 326 về án phí lệ phí toà án thì số tiền được chia từ 800.000.000 đồng đến dưới 2.000.000.000 đồng thì án phí phải chịu là 36.000.000 đồng cộng 3% giá trị vượt quá 800.000.000 đồng. Số tiền bà Phúc được chia là 1.218.264.000 đồng nên án phí bà Phúc phải chịu là 48.547.920 đồng [Xe 77.230.000 + vật dụng 14.435.000 + tiền người khác nợ 103.500.000 + đất 1.023.099.000 {309m²x 3.311.000m²}= 1.218.264.000 đồng] vào ngày 15 tháng 12 năm 2022 bà Phúc dự nộp số tiền 19.410.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0005921; ngày 27/3/2024 bà Phúc dự nộp số tiền 19.102.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004752 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được đối trừ còn lại phải nộp tiếp 10.335.920 đồng.
Ông Nguyễn Quốc Nhựt phải chịu án phí cấp dưỡng 300.000 đồng và án phí chia tài sản tương tự như cách tính án phí bà Phúc. Ông Nhựt phải chịu là 51.696.681 đồng [Xe 77.230.000 + vật dụng 14.435.000 + tiền người khác nợ 103.500.000 + đất 1.128.057.700 {340,7m²x 3.311.000m²}= 1.323.222.700 đồng], vào ngày 28/3/2024 ông Nhựt dự nộp số tiền 5.812.500 đồng, theo biên lai thu số 0004764 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được đối trừ còn lại phải nộp tiếp 46.157.181 đồng.
Ông Nguyễn Văn Bình và bà Phạm Ngọc Anh được miễn án phí theo quy định pháp luật (người cao tuổi), vào ngày 27 tháng 02 năm 2023 ông Bình và bà Anh dự nộp số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0006244 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được nhận lại.
Ông Nguyễn Văn Tân và bà Trần Hồng Thu Tâm phải chịu án phí 1.850.000 đồng.
Án phí phúc thẩm ông Nguyễn Quốc Nhựt không phải chịu do kháng cáo được chấp nhận. Ông Nguyễn Văn Bình và bà Phạm Ngọc Anh được miễn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Quốc Nhựt, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Bình và bà Phạm Ngọc Anh. Sửa bản án sơ thẩm Hôn nhân và gia đình số 234/2024/HNGĐ-ST ngày 12/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165, 217, Điều 227, 228, Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, 2 Điều 59, Điều 62, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về Tài sản:
- Chia cho bà Nguyễn Thị Phúc được hưởng:
- + Phần đất diện tích 309m² (ngang 09 mét) thuộc một phần thửa số 506 tờ bản đồ số 5 – bản đồ thành lập năm 2002, toạ lạc tại ấp Rạch Bào, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (Phần đất đo đạt thực tế được tính từ M1 đo về hướng M2 lấy 09 mét ngang và từ M4 đo về hướng M3 lấy 09 mét ngang).
- + 01 xe máy nhãn hiệu Honda SH biển kiểm soát: 69N1-782.66, xe hiện ông Nhựt đang quản lý, buộc ông Nhựt giao lại cho bà Phúc quản lý sử dụng.
- + Giá trị ½ tài sản (01 máy lạnh AQUA, 01 máy lọc nóng lạnh MUTOSI, 01 giường ngủ, 01 tủ áo; 01 giá võng, 01 bàn trang điểm) số tiền 14.435.000 đồng. Ông Nhựt đang quản lý hiện vật nên buộc ông Nhựt giao lại cho bà Phúc số tiền 14.435.000 đồng.
- Chia cho ông Nguyễn Quốc Nhựt được hưởng các tài sản sau:
- + Đất diện tích 340,7m² (ngang 10 mét) thuộc một phần thửa số 506 tờ bản đồ số 5 – bản đồ thành lập năm 2002, toạ lạc tại ấp Rạch Bào, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (Phần đất đo đạc thực tế được tính từ M2 đo về hướng M1 lấy 10 mét ngang và từ M3 đo về hướng M4 lấy 10 mét ngang).
- + 01 xe máy nhãn hiệu BCR biển kiểm soát: 69N1-760.84.
- + 01 xe máy nhãn hiệu honda Wave RSX biển kiểm soát: 69N1-761.76.
- + 01 máy lạnh AQUA, 01 máy lọc nóng lạnh MUTOSI, 01 giường ngủ, 01 tủ áo; 01 giá võng, 01 bàn trang điểm (trong đó giá trị được chia với số tiền 14.435.000 đồng). Các hiện vật này ông Nhựt đang quản lý, nay được tiếp tục quản lý, sử dụng.
- + Buộc bà Trần Hồng Thu Tâm và ông Nguyễn Văn Tân có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Quốc Nhựt số tiền 37.000.000 đồng.
- + Buộc bà Nguyễn Thị Phúc có nghĩa vụ giao lại cho ông Nguyễn Quốc Nhựt 89.800.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Phúc và ông Nguyễn Quốc Nhựt được thực hiện quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Bình, bà Phạm Ngọc Anh về việc yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 08/9/2022 giữa ông Nguyễn Văn Bình, bà Phạm Ngọc Anh với ông Nguyễn Quốc Nhựt, bà Nguyễn Thị Phúc.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Quốc nhựt đối với bà Nguyễn Thị Phúc về việc hưởng ½ (một phần hai) số tiền 230.000 đồng (tiền vay của ông Lê Hoàng Khang, bà Trịnh Tú Quyên, ông Trần Văn Dần).
(Kèm theo Trích đo hiện trạng ngày 30/5/2023 của Công ty TNHH Phát triển xanh Việt Nam).
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm, không có kháng cáo, kháng nghị.
Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Phúc phải chịu án phí hôn nhân gia đình 300.000 đồng và án phí chia tài sản 48.547.920 đồng vào ngày 15 tháng 12 năm 2022 bà Phúc dự nộp số tiền 19.410.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0005921; ngày 27/3/2024 bà Phúc dự nộp số tiền 19.102.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004752 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được đối trừ còn lại phải nộp tiếp 10.335.920 đồng.
Ông Nguyễn Quốc Nhựt phải chịu án phí cấp dưỡng 300.000 đồng và án phí chia tài sản 51.696.681 đồng, vào ngày 28/3/2024 ông Nhựt dự nộp số tiền 5.812.500 đồng, theo biên lai thu số 0004764 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được đối trừ còn lại phải nộp tiếp 46.157.181 đồng.
3. Án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Quốc Nhựt không phải chịu. Đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005211 tại Chi cục Thi hành án huyện Trần Văn Thời được nhận lại.
Ông Nguyễn Văn Bình và bà Phạm Ngọc Anh được miễn.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Hải Hà |
12
Bản án số 31/2024/HNGĐ-PT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, đòi lại tài sản
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung, đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo
