|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 23/9/2024
V/v Tranh chấp ly hôn,
chia tài sản và trả nợ khi ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Chọn |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Thị Kim Hường |
| Ông Trần Bình Đảo |
- Thư ký phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Ông Trang Minh Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLPT-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản và trả nợ khi ly hôn”.
Do bản án hôn nhân sơ thẩm số: 186/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 22/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 08/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1962. Có mặt
Địa chỉ: Tổ D, ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Bà Trương Lệ H (M), sinh năm 1967. Có mặt
Địa chỉ: Tổ D, ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Đoàn Công T - Văn phòng luật sư Đoàn Công T thuộc Đoàn luật sư tỉnh K. Có mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Công ty B. Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
- Công ty B1 - Văn phòng K. Địa chỉ: Khu phố K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt
- Bà Hồ Thị Lệ T1, sinh năm 1974.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Quốc P, sinh năm 1972. Có mặt
Cùng địa chỉ: Số C N, phường I, quận F, thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Đỗ Đình T2, sinh năm 1961. Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Đặng Đức M1, sinh năm 1961. Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ G, ấp K, xã K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Trần Xuân H1. Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ G, ấp K, xã K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Phan Thị Mỹ D, sinh năm 1969. Có mặt
Địa chỉ: Số B, Tổ A, khu phố N, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Trần Văn M2, sinh năm 1961. Có mặt
Địa chỉ: Tổ A, ấp G, xã P, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1971. Có mặt
Địa chỉ: Tổ G, ấp B, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
- Ngân hàng N
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Khánh G - Giám đốc N1 - Chi nhánh huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: Số A H, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Trương Oai L, sinh năm 1964. Vắng mặt
Địa chỉ: Tổ A, ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.
- Ngân hàng C3- Phòng giao dịch huyện K
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí H2 - Giám đốc Ngân hàng C3 - Phòng giao dịch huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ: khu phố B, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Ông Nguyễn Trung T3, sinh năm 1968. Có mặt
Địa chỉ: C- ấp Đ, xã T, huyện T, Kiên Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1996
Địa chỉ: Tổ F, ấp K, xã K, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Phạm Văn V, bị đơn bà Trương Lệ H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa của nguyên đơn ông Phạm Văn V trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Trương Lệ H chung sống với nhau từ năm 1991, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang được cấp giấy kết hôn vào ngày 01/7/1991. Quá trình chung sống đến năm 2015 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, bà H ngoại tình với người đàn ông khác và đi theo nhân tình 02 năm sau trở về nhà đập phá nhà cửa, két sắt để lấy toàn bộ giấy tờ có liên quan đến tiền bạc, cố tình chiếm đoạt hết tài sản chung. Nay tình cảm vợ chồng rạn nứt không thể hàn gắn và không thể sống chung được nữa, xin được ly hôn với bà H.
Về con chung: Ông và bà H chung sống với nhau có 03 người con chung tên Phạm Phú C1, sinh ngày 14/4/1992; Phạm Thị Bích P1, sinh ngày 08/8/1995 và Phạm Thùy G1, sinh ngày 15/01/2000. Nay các con đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, sống tự lập, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung gồm:
- Phần đất có diện tích 20.542,5m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 872602 ngày 27/3/2009 cho ông Phạm Văn V đứng tên.
- Phần đất có diện tích 18.902.0m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 724538 ngày 23/11/2012 cho Trương Lệ H đứng tên.
- Phần đất có diện tích chiều ngang 15m chiều dài khoảng 20m (chạy dài tới mé sau kênh T3), đất bờ kênh, đất chưa được cấp giấy, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Phần đất có diện tích chiều ngang 10m chiều dài khoảng 20m (chạy dài tới mé sau kênh T3), đất bờ kênh, đất chưa được cấp giấy, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Một xe mô tô mang biển kiểm soát 68K1-052.45, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER-1S, màu sơn: Đỏ - đen do bà Trương Lệ H đứng tên.
- Một chiếc xe cuốc mua vào năm 2013 với giá 49.000.000₫
- Một cái trẹt 03 tấn bằng cây gỗ mua năm 2010 với giá 12.000.000₫
- Giàn xới mua năm 2014 với giá 25.000.000đ.
- Cặp bánh lồng máy cày mua với giá 12.000.000đ.
- Một chiếc máy cày mua từ tiền vay Ngân hàng N – chi nhánh huyện K với giá 410.000.000đ. Tài sản này bà H đã sử dụng trên 02 năm và ông đồng ý giao cho bà H tiếp tục sử dụng nhưng bà H phải có nghĩa vụ trả hết số nợ còn lại phát sinh từ mua máy cày cho Ngân hàng N.
- Tiền thu hồi nợ từ Cơ quan thi hành án dân sự huyện K của ông Lê Văn D1 số tiền 30.000.000₫.
Ông V yêu cầu chia đôi tài sản nêu trên.
Về nợ chung gồm:
- Nợ Ngân hàng N – chi nhánh huyện K số tiền 270.000.000₫ (phát sinh từ tiền vay mua máy cày giá 410.000.000đ, đã trả được số tiền 140.000.000đ, còn nợ lại số tiền 270.000.000₫). Ông V yêu cầu bà H hết số nợ này vì bà H được tiếp tục sử dụng máy cày từ 02 năm cho đến nay.
- Nợ tiền mua vật tư nông nghiệp của Cửa hàng vật tư nông nghiệp Minh C2 (do bà Nguyễn Thị C là chủ hộ kinh doanh Minh C2) tại: ấp B, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang với số tiền 40.254.000đ. Ông V đồng ý tự mình trả hết số nợ này và không yêu cầu bà H cùng trả số nợ này.
- Ông Trương Oai L, sinh năm 1964 (là anh ruột của bà H), trú tại: Tổ A, ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, có nợ hai vợ chồng số tiền 145.000.000đ.
- Ông Trần Xuân H1, trú tại: Tổ D, ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, có nợ hai vợ chồng số tiền 5.000.000đ.
Ông V yêu cầu bà H phải chia hưởng lợi từ tài sản chung trong thời gian 05 năm khoảng số tiền là 360.000.000đ trên 04 phần diện tích đất, cụ thể: Phần đất có diện tích 20.542,5m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: Ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 872602 ngày 27/3/2009 cho ông Phạm Văn V đứng tên; Phần đất có diện tích 18.902.0m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 724538 ngày 23/11/2012 cho Trương Lệ H đứng tên; Phần đất có diện tích 19.800.0m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BO 252641 ngày 01/7/2013 cho ông Đỗ Đình T2 đứng tên (đang được Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương thụ lý giải quyết về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất”) và phần diện tích đất 18.140,7m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện H ngày 12/8/1995 cho ông Trần Văn M2 đứng tên. Vì bà H là người trực tiếp sử dụng canh tác, không giao cho ông phần đất nào canh tác nên ông phải đi thuê đất để canh tác. Tại phiên Tòa ông V yêu cầu bà H phải chia ½ hưởng hoa lợi, lợi tức trên 02 thửa đất do ông và bà H đứng tên, cụ thể thời gian bà H canh tác 05 năm, mỗi năm 30.000.000₫, (30.000.000₫ x 02 thửa đất x 5 năm = 300.000.000₫) với số tiền là 150.000.000₫
Theo bản tự khai và các lời khai tại tòa của bị đơn bà Trương Lệ H trình bày:
Về hôn nhân: Bà thừa nhận lời trình bày của ông Phạm Văn V về hôn nhân là đúng sự thật. Do ông V đánh đập bà nên bà mới bỏ nhà đi ra ngoài sống. Nay bà cũng đồng ý ly hôn với ông V.
Về con chung: có 03 người con chung tên Phạm Phú C1, sinh ngày 14/4/1992; Phạm Thị Bích P1, sinh ngày 08/8/1995 và Phạm Thùy G1, sinh ngày 15/01/2000. Nay các con đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, sống tự lập, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung gồm:
- Phần đất có diện tích 20.542,5m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 872602 ngày 27/3/2009 cho ông Phạm Văn V đứng tên.
- Phần đất có diện tích 18.902.0m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 724538 ngày 23/11/2012 cho Trương Lệ H đứng tên.
- Phần đất có diện tích chiều ngang 15m chiều dài khoảng 20m (chạy dài tới mé sau kênh T3), đất bờ kênh, đất chưa được cấp giấy, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Phần đất có diện tích chiều ngang 10m chiều dài khoảng 20m (chạy dài tới mé sau kênh T3), đất bờ kênh, đất chưa được cấp giấy, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.
- Một xe mô tô mang biển kiểm soát 68K1-052.45, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER-1S, màu sơn: Đỏ - đen do bà Trương L1 đứng tên.
- Một chiếc xe cuốc mua vào năm 2013 với giá 49.000.000₫
- Một cái trẹt 03 tấn bằng cây gỗ mua năm 2010 với giá 12.000.000₫
- Giàn xới mua năm 2014 với giá 25.000.000đ.
- Cặp bánh lồng máy cày mua với giá 12.000.000đ.
- Một chiếc máy cày mua từ tiền vay Ngân hàng N – chi nhánh huyện K với giá 410.000.000₫.
- Một chiếc xe mô tô 68K4-4015, nhãn hiệu HONDA, loại xe: Ware, màu sơn: đỏ đen bạc do ông V đứng tên, mua năm 2010 với giá 17.500.000₫.
- 07 cái đầu máy, trong đó có 01 đầu máy có giá lúc mua là 7.200.000đ; còn lại 06 cái đầu máy có giá mỗi cái là 3.000.000₫
- 01 bình xả phân giá lúc mua là 4.500.000₫
- 01 bình xịt thuốc giá lúc mua là 4.000.000đ.
- 01 máy hàn giá lúc mua là 4.500.000đ.
- 01 tủ lạnh giá lúc mua là 5.000.000₫
- 02 cái giường giá lúc mua là 9.000.000₫
- 01 bộ bàn ghế cây giá lúc mua là 10.000.000₫
- 03 bình ắc quy giá lúc mua 6.000.000₫
- 02 bồn nước 1.000 lít giá lúc mua là 1.500.000₫
- 01 cái bồn nước 2.000 lít giá lúc mua 3.500.000₫
- Phần diện tích đất 18.140,7m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện H ngày 12/8/1995 cho ông Trần Văn M2 đứng tên. Bà H khai phần đất này vợ chồng đã mua của ông M2 vào năm 2004 với số tiền 25.000.000đ, chưa làm thủ tục sang tên cho vợ chồng bà. Nay bà yêu cầu được đem tài sản này vào tài sản chung của vợ chồng để chia.
Bà H yêu cầu chia đôi mỗi người ½ các tài sản chung trên.
Về nợ chung gồm:
- Nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện K số tiền 26.500.000₫
- Nợ Ngân hàng N – chi nhánh huyện K số tiền 270.000.000đ.
- Nợ ông Nguyễn Trung T3, địa chỉ: Tổ F, ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang số tiền 238.000.000₫.
- Nợ ông Đặng Đức M1 (Út M3), địa chỉ: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang số tiền 18.488.000₫.
- Nợ ông Đỗ Đình T2, địa chỉ: huyện T, tỉnh Kiên Giang số tiền 147.080.000đ.
- Nợ Công ty B số tiền 44.000.000₫
- Nợ tiền mua vật tư nông nghiệp của Cửa hàng vật tư nông nghiệp Minh C2 (do bà Nguyễn Thị C là chủ hộ kinh doanh Minh C2) tại: ấp B, xã B, huyện H, tỉnh Kiên Giang với số tiền 40.254.000đ.
- Nợ Công ty B1 – Văn phòng K số tiền 19.900.000₫
Bà H yêu cầu chia đôi mỗi người trả ½ số nợ.
Theo đơn khởi kiện và các lại khai tại Tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N trình bày:
Ngày 23/5/2018 ông Phạm Văn V và vợ bà Trương Lệ H đã ký hợp đồng tín dụng số 7701-LAV-201800404 với A chi nhánh huyện K vay số tiền 410.000.000₫, lãi suất cho vay 7,5%/năm, mục đích vay vốn: Mua máy kéo hiệu M4, thời gian cho vay: 36 tháng, trả lãi 06 tháng/lần (thuộc đối tượng cho vay hỗ trợ lãi suất theo Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013). Đến nay ông V bà H đã trả được tiền gốc số tiền 140.000.000₫ và số tiền lãi ngân hàng hỗ trợ số tiền 40.370.547₫.
Điều kiện để được vay vốn là thế chấp tài sản gồm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 872602 được Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 27/3/2009 do ông Phạm Văn V đứng tên, diện tích đất là 20.542,5m², đất trồng lúa, thửa đất số: 118; 119, tờ bản đồ số: 03, đất tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 724538 được Ủy ban nhân dân huyện K cấp ngày 23/11/2012 do bà Trương Lệ H đứng tên, diện tích đất là 18.902m², đất trồng lúa, thửa đất số: 109; 110, đất tọa lạc tại ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang
Nay Ngân hàng N chi nhánh huyện K yêu cầu vợ chồng ông V bà H trả nợ vay tín dụng số tiền 270.000.000đ. Nhưng đến ngày 03/6/2021 ông V bà H đã trả hết tòa bộ nợ vay gốc và lãi cho Ngân hàng. Ngày 08/12/2022 Ngân hàng N chi nhánh huyện K có đơn xin rút đơn khởi kiện toàn bộ số nợ trên.
Theo bản tự khai và các lời khai tại Tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ Ngân hàng C3 – đại diện ông Nguyễn Chí H2 trình bày:
Ngân hàng có cho vợ chồng ông Phạm Văn V bà Trương Lệ H vay tiền, còn nợ số tiền là 25.500.000đ. Đối với khoản vay này đã đến hạn thanh toán, yêu cầu vợ chồng ông V bà H thanh toán sớm cho Ngân hàng vì đây là khoản vay cho sinh viên tại địa phương, còn không thì thống nhất chia mỗi người ½. Nay ông V bà H đã trả được số tiền 11.750.000đ, còn nợ lại số tiền gốc lãi số tiền 12.873.000₫ (lãi tạm tính đến ngày 27/9/2023) và yêu cầu ông V bà H trả hết số nợ này.
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Mỹ D trình bày:
Nguyên vào ngày 05/3/2017 ông Phạm Văn V có thỏa thuận chuyển nhượng lại cho bà D diện tích đất, nhà có chiều ngang 15m chiều dài chạy xuống mé Kinh T3, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang với số tiền 120.000.000₫ và bà đã giao tiền đầy đủ cho ông V. Bà D cho biết thời điểm chuyển nhượng đất bà Trương Lệ H (vợ ông V) không có ở nhà, mà chỉ có ông V thương lượng với nhau về chuyển nhượng đất bằng giấy tay, không ra chính quyền địa phương xác nhận. Do ông V nói với bà là vợ ông V đã bỏ đi, ông V không có tiền trả nợ tiền phân giống nên ông đồng ý chuyển nhượng lại cho bà đất, nhà và ông V hứa nếu sau này có ai tranh chấp ông V hoàn toàn chịu trách nhiệm. Nay vợ chồng ông V bà H ly hôn có tranh chấp đến tài sản là diện tích đất, nhà ông V chuyển nhượng cho bà và bà yêu cầu vợ chồng ông V bà H tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà cho bà hoặc yêu cầu ông V hoàn tiền lại tính theo giá thời điểm hiện nay.
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trung T3 trình bày:
Vụ Đông Xuân 2018 – 2019 bà Trương Lệ H ông Phạm Văn V có nợ tiền vật tư nông nghiệp và tiền mượn số tiền 237.961.000đ. Nay ông yêu cầu vợ chồng ông V bà H trả nợ mua vật tư nông nghiệp và nợ vay số tiền 237.961.000đ.
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Đình T2 trình bày:
Vợ chồng ông Phạm Văn V bà Trương Lệ H có mua vật tư nông nghiệp của ông tính đến ngày 30/9/2019 ông V bà H còn nợ tiền mua vật tư nông nghiệp với số tiền 147.070.000đ. Nay ông yêu cầu vợ chồng ông V bà H trả nợ tiền mua vật tư nông nghiệp số tiền 147.070.000₫ và yêu cầu tính lãi suất theo giấy công nhận nợ từ ngày 30/9/2019 đến ngày xét xử.
Theo đơn khởi kiện và các lời khai Tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C trình bày:
Khoảng năm 2018 ông Phạm Văn V có đến cửa hàng của bà để mua vật tư nông nghiệp còn nợ lại số tiền 51.000.000đ. Sau đó ông V có gửi trả lại cho bà một ít phân để bán và đến ngày 25/11/2018 làm giấy chốt số nợ còn lại là 40.254.000đ, ông V có ký tên, ghi họ tên vào giấy xác nhận nợ. Nay bà yêu cầu ông V bà H trả hết số nợ số tiền 40.254.000₫ cho bà.
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Lệ T1 trình bày:
Vì do quen biết với chồng bà nên ông V có tâm sự đang gặp khó khan, nợ nần cần chuyển nhượng đất để lấy tiền trang trãi và ngày 04/4/2017 ông V chuyển nhượng diện tích đất, nhà cấp 4 có chiều ngang 10m chiều dài 9m. Đất, nhà tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang với giá 65.000.000đ cho bà, hai bên có làm giấy tay với nhau và bà đã giao đủ tiền cho ông V. Nay bà yêu cầu vợ chồng ông V bà H tiếp tục chuyển nhượng đất nhà trên cho bà hoặc yêu cầu ông V bà H hoàn tiền lại cho bà theo giá hiện tại.
Theo biên bản ghi lời khai và các lời khai tại Tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn M2 trình bày:
Năm 2004 ông có làm hợp đồng chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Phạm Văn V bà Trương Lệ H diện tích đất là 18.140,7m², đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, giấy chứng nhận QSD đất do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 12/8/1995 với giá 25.000.000₫ nhưng khi làm giấy đặt cọc ông V trả số tiền 20.000.000₫ và sau đó ông V trả thêm tiền là đủ số tiền mua đất.
Sau này ông V ra nhà ông nói do đất hoang hóa và không làm thủ tục sang tên được nên ông V thương lượng trả lại đất và ông đồng ý, đã trả đủ số tiền mua đất cho ông V. Nhưng ông V yêu cầu ông xin được thuê đất này làm mỗi năm là 5.000.000đ. Đến năm 2018 thì đất cho thuê có giá nên ông nâng giá thuê đất lên là 20.000.000đ/năm, hàng năm ông vẫn lấy tiền thuê đất từ ông V, ông không biết ai đang canh tác trên phần đấy này cả. Hiện nay phần đất này ông không bán cho vợ chồng ông V bà H mà ông chỉ cho ông V thuê. Nay ông không còn cho ông V thuê đất vì hiện nay hai vợ chồng ông V bà H đang giải quyết ly hôn và khi nào giải quyết xong việc ly hôn nếu ông V còn muốn tiếp tục thuê đất để làm và ông chưa cho ai thuê thì ông cho ông V thuê.
Theo biên bản ghi lời khai và các lời khai tại Tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Oai L trình bày:
Ông là anh ruột của bà Trương Lệ H, còn ông Phạm Văn V là em rễ. Ông đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương về việc “Tranh chấp về ly hôn và chia tài sản khi ly hôn” giữa ông Phạm Văn V và bà Trương Lệ H, trong phần nợ chung thấy có khai ông còn nợ vợ chồng ông V bà H số tiền 145.000.000₫ là không có. Khi hai vợ chồng ông V bà H còn chung sống với nhau có khó khăn nên ông có giúp đỡ vợ chồng ông V bà H cho vay một số tiền và sau đó ông V bà H có trả lại tiền cho ông làm nhiều lần mỗi lần trả khoảng số tiền 5.000.000₫ chuyển trả thông qua Ngân hàng thương mại cổ phần K1. Ông có dẫn vợ chồng ông V bà H ra cửa hàng vật tư nông nghiệp của ông Đỗ Đình T2 tại xã T, huyện T để làm ăn về mua bán vật tư nông nghiệp.
Nay ông không thừa nhận việc ông V khai ông còn nợ số tiền 145.000.000đ và ông không đồng ý số nợ này nên ông không đồng ý trả số nợ tiền này. Vì từ trước đến nay ông không bao giờ phải vay mượn tiền của vợ chồng ông V bà H.
Theo biên bản ghi lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân H1 trình bày:
Cách đây khoảng 7 đến 8 năm ông có đứng ra bảo lãnh cho bà Phạm Thị H3, sinh năm 1960, địa chỉ: ấp Đ, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang mua phân bón, thuốc trừ sâu của vợ chồng ông V bà H với số tiền 38.000.000đ, số tiền này đã được Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương giải quyết và đến nay ông đã trả đủ số tiền này cho ông V bà H. Nay ông V bà H ly hôn và ông V khai ông còn nợ vợ chồng ông V bà H số tiền 5.000.000₫ là không có. Ông không còn nợ nần gì nữa với vợ chồng ông V bà H nên ông không đồng ý trả số tiền 5.000.000đ như ông V khai.
Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 186/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 và khoản 1, 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng: Các Điều 264, 430, 440 463, 466 khoản 1,2 Điều 468 Bộ luật dân sự và Điều 56; Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thuần tình ly hôn giữa ông Phạm Văn V và bà Trương Lệ H.
- Về con chung: Ông Vương bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
- Về tài sản chung:
+ Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của ông V bà H về chia tài sản chung sau:
Giao cho ông V được quyền quản lý, sử dụng: Phần đất có diện tích 20.542,5m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 872602 ngày 27/3/2009 cho ông Phạm Văn V đứng tên, có giá trị là 779.428.000đ.
Giao cho bà H được quyền quản lý, sử dụng: phần đất có diện tích 18.902.0m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 724538 ngày 23/11/2012 cho Trương Lệ H đứng tên, có giá trị là 783.004.000₫.
+ Hội đồng xét xử giao cho ông V được quyền quản lý, sử dụng tài sản chung sau:
Một xe mô tô mang biển kiểm soát 68K1 – 052.45, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER-1S, màu sơn: Đỏ - đen do bà Trương L1 đứng tên, có giá trị là 10.000.000₫.
Phần đất có diện tích chiều ngang 15m chiều dài 22,5m (chạy dài tới mé sau kênh T3), đất bờ kênh, đất chưa được cấp giấy, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. (Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/02/2020), có giá trị là 249.750.000₫.
+ Hội đồng xét xử giao cho bà H được quyền quản lý, sử dụng các tài sản chung có gí trị sau:
Phần đất có diện tích chiều ngang 10m chiều dài khoảng 21m (chạy dài tới mé sau kênh T3), đất bờ kênh, đất chưa được cấp giấy, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. (Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/02/2020), có giá trị là 155.400.000đ.
01 bộ giàn xới đất theo kết quả định giá tài sản có giá trị là 3.000.000đ; 01 bộ bánh lồng máy cày theo kết quả định giá tài sản có giá trị là 7.000.000đ; 01 chiếc máy cày Massey Ferguson MF 1552 theo kết quả định giá tài sản có giá trị là 246.000.000đ; 01 chiếc máy đào bánh xích Yanmar YTB800 theo kết quả định giá tài sản có giá trị là 18.000.000₫ và 01 chiếc trẹt gỗ theo kết quả định giá tài sản có giá trị là 3.000.000đ.
Buộc bà Trương Lệ H phải giao lại số tiền 10.674.500đ cho ông Phạm Văn V.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông V với bà Phan Thị Mỹ D, bà Hồ Thị Lệ T1 là vô hiệu
Buộc ông V phải hoàn trả lại cho bà Phan Thị Mỹ D số tiền 120.000.000₫ và cho bà Hồ Thị Lệ T1 số tiền 65.000.000₫.
- Về nợ chung:
Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về số tiền 270.000.000₫.
Buộc ông V bà H mỗi người phải có nghĩa vụ trả nợ tiền mua vật tư nông nghiệp, tiền vay số tiền 118.980.500đ cho ông Nguyễn Trung T3.
Buộc ông V bà H mỗi người phải có nghĩa trả nợ tiền mua vật tư nông nghiệp gốc lãi số tiền 106.569.232đ cho ông Đỗ ĐìnhTuấn .
Buộc ông V phải có nghĩa vụ trả nợ tiền mua vật tư nông nghiệp số tiền 40.254.000₫ bà Nguyễn Thị C.
Buộc ông V phải có nghĩa vụ trả nợ gốc lãi số tiền là 12.873.000₫ (lãi tạm tính đến ngày 27/9/2023) cho Ngân hàng C3 phòng giao dịch huyện K.
Không chấp nhận yêu cầu của ông V về yêu cầu ông Trương Oai L trả lại số tiền 145.000.000₫.
Không chấp nhận yêu cầu của ông V về yêu cầu ông Trần Xuân H1 trả lại số tiền 5.000.000₫.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo hạn luật định.
Ngày 11 tháng 10 năm 2023, bà Trương Lệ H4 kháng cáo một phần bản án với nội dung, 03 nền đất chiều ngang 10m, chiều ngang 15 và chiều ngang 07m, bà yêu cầu:
- Nhà và đất chiều ngang 10m dài 21m tại ấp K, xã K, giao cho bà được quyền sử dụng, không phải tài sản chung giữa bà và ông V, nhà và đất là của Phạm Phú C1 (con ruột của ông V bà H), hiện bà đang quản lý sử dụng;
- Phần của bà có chiều ngang 15m dài 22,5m tại ấp K, xã K, huyện K, Kiên Giang;
- Giao cho ông V nhà và đất diện tích ngang 7m dài 20m tọa lạc tại Tổ H- ấp S, xã B, hiện ông V đang quản lý, sử dụng.
Ông Phạm Văn V kháng cáo ngày 11/10/2023 với nội dung:
- Không chia phần đất có diện tích đất ngang 25m dài 22m cặp Kênh T3;
- Không buộc ông trả cho ông Nguyễn Trung T3 số tiền 118.980.500đ;
- Buộc bà H phải chịu ½ số nợ 40.254.000đ của bà C;
- Bà H phải trả cho ông: 40.000.000₫ đã lấy của ông, 11.000.000đ tiền lúa giống và thuốc trừ sâu, một thùng suốt lúa trị gía 6.000.000₫
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông V thay đổi một phần yêu cầu kháng cáo, không kháng cáo yêu cầu bà H phải trả cho ông: 40.000.000₫ đã lấy của ông, 11.000.000đ tiền lúa giống và thuốc trừ sâu, một thùng suốt lúa trị gía 6.000.000đ.
Bà H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trương Lệ H, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Hoa lý D2:
- Thứ nhất, bà H không đồng ý nhận phần đất ngang 10m, yêu cầu cho con là cháu C1, việc này ông bà đều thừa nhận nên xem như cho con;
- Chia cho bà phần đất ngang 15m, chia cho ông V ngang 7m vì bà đang ở và sử dụng, ông V cũng đang ở và sử dụng trên diện tích ngang 7m.
- Đối với phần nợ ông T3 là nợ chung vì nợ phát sinh khi bà H canh tác đất cũng lo cho gia đình, cho các con;
- Phần nợ bà C, cấp sơ thẩm ông V thừa nhận trả, giờ thay đổi ý kiến là không cơ sở.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của các đương sự tham gia tố tụng ở giai đoạn phúc thẩm, đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phạm Văn V và bà Trương Lệ H, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến trình bày của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ hôn nhân, một phần nợ và tài sản chung: Các bên không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên phần này của Bản án đã có hiệu lực pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn, ông Phạm Văn V lý do diện tích đất ngang 25m dài 22m cặp Kênh T3 ông đã bán với giá 180 triệu đồng để trả nợ vì bị thất mùa trong việc canh tác 6ha đất lúa, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã K; phần nợ ông T3 do bà H mua vật tư và vay còn nợ sau khi ông bà đã ly thân; nợ bà C trong thời kỳ ông bà còn sống chung nên mỗi người phải chịu ½
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tổng diện tích đất chiều ngang 25m dài 22m cặp Kênh T, tức là 02 nền đất có chiều ngang 10m dài 21m và chiều ngang 15m dài 22,5m ông V đã bán với giá 180 triệu đồng để trả nợ, quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận khi chuyển nhượng đất không được sự đồng ý của bà H (vợ ông V), chỉ làm giấy tay không được chính quyền địa phương xác nhận, bà D và bà T1 là người trực tiếp mua cũng chưa sử dụng đất và chỉ giao đủ số tiền cho ông V, cụ thể bà D giao cho V số tiền 120.000.000đ, bà T1 giao cho V số tiền 65.000.000đ. Cấp sơ thẩm đã xử hợp đồng chuyển nhượng giữa ông V và bà D, bà T1 vô hiệu theo quy định tại Điều 117, 123, 129, 131 và Điều 500 Bộ luật dân sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo phần này, về tiền chuyển nhượng ông V chi sài cho việc sản xuất riêng không bàn bạc cùng bà H, đồng thời bà H trong thời điểm này không sống cùng ông V cho nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông V yêu cầu không chia 02 nền đất này mà tiếp tục công nhận hợp đồng chuyển nhượng cho bà D, bà T1;
Phần nợ vật tư nông nghiệp của ông T3, ông T3 yêu cầu vợ chồng ông V bà H trả nợ tiền mua vật tư nông nghiệp và nợ vay số tiền 237.961.000đ . Xét thấy, giữa ông T3 với bà H có giao dịch mua vật tư nông nghiệp và giao dịch dân sự vay tiền với nhau trong thời kỳ hôn nhân, phần tiền vay để trả nợ chung cho vợ chồng, phần nợ vật tư nông nghiệp tuy bà H trực tiếp canh tác trên đất nhưng bà sản xuất cũng nhằm lo cho gia đình và các con chung của ông bà. Tại cấp sơ thẩm bà H ông V cũng thừa nhận còn nợ ông T3 số tiền 237.961.000đ, đồng thời ông bà cũng đồng ý mỗi người trả ½ số nợ này cho ông T3, ông T3 cũng thống nhất nhưng sau khi xử sơ thẩm ông V thay đổi ý kiến không đồng ý trả và không có chứng cứ nào mới chứng minh nên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu này;
Phần nợ đối với bà C số tiền 40.254.000đ. Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, ông V thừa nhận còn nợ bà C số tiền 40.254.000₫ và xác định đây là nợ riêng của ông, không liên quan đến bà H, đây là số nợ ông mua vật tư nông nghiệp của bà C trong thời gian bà H không có ở nhà vào năm 2018, bà C cung cấp được giấy ghi nợ do bà C ông V chốt nợ vào ngày 25/11/2018 do chính ông V ký; bà C cũng đồng ý cho ông V tự trả số nợ này, không yêu cầu bà H cùng trả nợ với ông V. Do vậy cấp sơ thẩm xử buộc ông V phải nghĩa vụ trả hết nợ tiền mua vật tư nông nghiệp số tiền 40.254.000đ cho bà C là phù hợp với quy định tại Điều 430, 440 Bộ luật dân sự. Tại phiên tòa phúc thẩm ông V kháng cáo yêu cầu bà H cùng có nghĩa vụ trả nợ cho bà C, bà H thì không đồng ý và bà C cũng không yêu cầu bà H cùng có nghĩa vụ trả nợ nên không có căn cứ chấp nhận.
Đối với các khoản tiền 40 triệu, 11 triệu và 06 đồng: Ông V chưa yêu cầu cấp sơ thẩm xét xử, tại phiên tòa phúc thẩm ông cũng không yêu cầu tiếp tục giải quyết, ông sẽ yêu cầu khởi kiện bằng vụ án khác khi cần thiết nên miễn xét.
[3] Xét kháng cáo của bà Trương Lệ H.
Tại phiên tòa phúc thẩm ông bà đều xác nhận 03 nền đất chiều ngang 10m dài 21m, chiều ngang 15 dài 22,5m đều tọa lạc tại ấp S, xã K, huyện K là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhưng Nhà và đất chiều ngang 10m dài 21m hiện bà đang quản lý sử dụng là do ông bà đứng ra mua cho con là Phạm Phú C1 ở. Nhà và đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp sơ thẩm đã xử giao cho ông V phần đất chiều ngang 15m, phần đất ngang 10m giao bà H là phù hợp, tạo điều kiện mỗi bên đều có chổ ở. Việc tặng cho con là anh C1, bà H cho rằng do con bỏ tiền ra mua nhưng không cung cấp thêm chứng cứ gì mới chứng minh và đồng thời ông V cũng không đồng ý cho C1 nên không có căn cứ chấp nhận. Cấp sơ thẩm đã xử giao cho bà H phần đất chiều ngang 10m dài 21m, giao cho ông V phần đất chiều ngang 15m dài 22,5m là có căn cứ, phù hợp;
Giao cho ông V nhà và đất diện tích ngang 7m dài 20m tọa lạc tại Tổ H- ấp S, xã B, hiện ông V đang quản lý, sử dụng.
Đối với diện tích đất chiều ngang 07m chiều dài khoảng 70m, đất chưa được cấp giấy, đất tọa lạc tại: Tổ H, ấp S, xã B, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Bà H yêu cầu xác định tài sản chung của vợ chồng và chia cho ông V, nguồn tiền mua từ tiền tiết kiệm gửi Ngân hàng nhưng bà không có chứng cứ chúng minh; ông V cho rằng tài sản này là tài sản riêng của ông, ông V cung cấp được giấy mua bán đất vào ngày 06/10/2019, mua sau khi tòa đã thụ lý giải quyết vụ án tranh chấp xin ly hôn và chia tài sản, nợ chung của ông bà cho nên yêu cầu của bà H là không có căn cứ chấp nhận.
Từ những nhận định và phân tích nêu trên, trong nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất chấp nhận đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của ông V và bà H. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Không chấp nhận ý kiến bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn, lý do như đã nhận định trên.
[3] Về án phí: Căn cứ các Điều 144, 146 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng giữ nguyên theo bản án sơ thẩm.
Án phí phúc thẩm: Các đương sự nguyên đơn và bị đơn phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.
Tuy nhiên, do nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Phạm Văn V và bà Trương Lệ H. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 186/2023/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Áp dụng các Điều 117, 123, 129, 131, 264, 430, 440 463, 466; khoản 1, 2 Điều 468 và Điều 500 Bộ luật dân sự; Điều 167, 168 Luật đất đai năm 2013; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân:
- Về con chung:
- Về tài sản chung:
- - Giao cho ông V được quyền quản lý, sử dụng các tài sản như sau:
- - Giao cho bà H được quyền quản lý, sử dụng các tài sản như sau:
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Phạm Văn V với bà Phan Thị Mỹ D, bà Hồ Thị Lệ T1 là vô hiệu.
- Về nợ chung:
- Ông Nguyễn Trung T3 số tiền 118.980.500đ (Một trăm mười tám triệu chín trăm tám mươi nghìn năm trăm đồng);
- Ông Đỗ Đình T2 số tiền 106.569.232đ (Một trăm lẻ sáu triệu năm trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm ba mươi hai đồng);
- Bà Nguyễn Thị C số tiền 40.254.000₫ (Bốn mươi triệu hai trăm năm mươi bốn nghìn đồng).
- Ngân hàng C3 phòng giao dịch huyện K số tiền gốc và lãi (lãi tạm tính đến ngày 27/9/2023) là 12.873.000₫ (Mười hai triệu tám trăm bảy mươi ba nghìn đồng).
- Ông Nguyễn Trung T3 số tiền 118.980.500đ (Một trăm mười tám triệu chín trăm tám mươi nghìn năm trăm đồng);
- Ông Đỗ Đình T2 số tiền 106.569.232đ (Một trăm lẻ sáu triệu năm trăm sáu mươi chín nghìn hai trăm ba mươi hai đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa ông Phạm Văn V và bà Trương Lệ H.
Có 03 người con chung tên Phạm Phú C1, sinh ngày 14/4/1992; Phạm Thị Bích P1, sinh ngày 08/8/1995 và Phạm Thùy G1, sinh ngày 15/01/2000. Các con đã trưởng thành ông V bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
Phần đất có diện tích 20.542,5m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB 872602 ngày 27/3/2009 cho ông Phạm Văn V đứng tên, có giá trị là 779.428.000₫.;
Phần đất có diện tích chiều ngang 15m chiều dài 22,5m (chạy dài tới mé sau kênh T3), đất bờ kênh, đất chưa được cấp giấy, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. (Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/02/2020), có giá trị là 249.750.000đ;
Một xe mô tô mang biển kiểm soát 68K1 – 052.45, nhãn hiệu YAMAHA, loại xe EXCITER-1S, màu sơn: Đỏ - đen do bà Trương L1 đứng tên, có giá trị là 10.000.000đ. Bà H, ông V có nghĩa vụ thực hiện việc sang tên quyền sở hữu theo quy định pháp luật.
Phần đất có diện tích 18.902.0m², đất trồng lúa, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang, đất được Ủy ban nhân dân huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 724538 ngày 23/11/2012 cho Trương Lệ H đứng tên, có giá trị là 783.004.000đ;
Phần đất có diện tích chiều ngang 10m chiều dài khoảng 21m (chạy dài tới mé sau kênh T3), đất bờ kênh, đất chưa được cấp giấy, đất tọa lạc tại: ấp K, xã K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. (Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 21/02/2020), có giá trị là 155.400.000₫.
01 bộ giàn xới đất theo kết quả định giá tài sản có giá trị là 3.000.000đ; 01 bộ bánh lồng máy cày theo kết quả định giá tài sản có giá trị là 7.000.000đ; 01 chiếc máy cày Massey Ferguson MF 1552 theo kết quả định giá tài sản có giá trị là 246.000.000đ; 01 chiếc máy đào bánh xích Yanmar YTB800 theo kết quả định giá tài sản có giá trị là 18.000.000₫ và 01 chiếc trẹt gỗ theo kết quả định giá tài sản có giá trị là 3.000.000₫.
Buộc bà Trương Lệ H phải giao lại số tiền 10.674.500đ cho ông Phạm Văn V.
Buộc ông Phạm Văn V phải hoàn trả lại cho bà Phan Thị Mỹ D số tiền 120.000.000đ và cho bà Hồ Thị Lệ T1 số tiền 65.000.000₫.
Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N về số tiền 270.000.000₫.
5.1 Buộc ông Phạm Văn V phải có nghĩa vụ trả nợ cho:
5.2 Buộc bà Trương Lệ H phải có nghĩa vụ trả nợ cho:
Kể từ ngày người được thi hành án có yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi teo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Phạm Văn V về việc:
- Về án phí, chi phí tố tụng:
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Yêu cầu ông Trương Oai L trả lại số tiền 145.000.000đ, ông Trần Xuân H1 trả lại số tiền 5.000.000₫.
7.1 Về án phí sơ thẩm :
Buộc bà Trương Lệ H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm số tiền 51.498.395₫ (Năm mươi mốt triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn ba trăm chín mươi lăm đồng).
Ông Phạm Văn V là người cao tuổi nên được miễn án phí.
Hoàn trả cho ông Phạm Văn V tạm ứng án phí đã nộp số tiền 15.114.350₫ (Mười lăm triệu một trăm mười bốn nghìn ba trăm năm mươi đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004329 ngày 23/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Hoàn trả cho Ngân hàng N tạm ứng án phí đã nộp số tiền 6.817.962đ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009987 ngày 18/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Hoàn trả cho ông Nguyễn Trung T3 số tiền án phí tạm nộp 5.952.000₫ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000074 ngày 06/3/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Hoàn trả cho ông Đỗ Đình T2 số tiền án phí tạm nộp 3.676.750đ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000059 ngày 28/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Hoàn trả cho bà Hồ Thị Lệ T1 số tiền án phí tạm nộp 300.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009080 ngày 15/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Hoàn trả cho bà Phan Thị Mỹ D số tiền án phí tạm nộp 300.000₫ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000012 ngày 28/10/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị C số tiền án phí tạm nộp 1.275.000đ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000410 ngày 21/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
7.2 Về chi phí đo đạc, thẩm định:
17.360.000đ, ông V bà H mỗi người phải chịu ½ là 8.680.000đ. Hoàn trả lại cho ông V bà H mỗi người số tiền 1.320.000₫, sau khi án có hiệu lực pháp luật ông V, bà H liên hệ Tòa án nhận lại số tiền này.
7.3 Án phí phúc thẩm:
Ông Phạm Văn V được miễn án phí.
Bà Trương Lệ H có nghĩa vụ nộp 300.000₫ án phí hôn nhân phúc thẩm nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0001739 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chọn |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn, chia tài sản và trả nợ khi ly hôn
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản và trả nợ khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: V-H
