Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 17-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trương Diên Hùng.
  2. Ông Lê Đình Hoà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Phan Văn Q, sinh ngày 18/7/2000; giới tính: Nam; tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 12/12; con ông Phan H, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 02/3/2021 bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính 3.500.000 đồng về hành vi che giấu hành vi đánh bạc trái phép; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ ngày từ ngày 06/6/2024 đến ngày 14/6/2024, từ ngày 15/6/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (bị cáo tại ngoại có mặt).

2. Lê Đình T, sinh ngày 09/8/1990; giới tính: Nam; tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 11/12; con ông Lê X, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1947; có vợ là Lê Thị Mỹ H1, sinh năm 1997; có 01 người con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 02/3/2021 bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ ngày từ ngày 06/6/2024 đến ngày 14/6/2024, từ ngày 15/6/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (bị cáo tại ngoại có mặt).

3. Nguyễn Văn S, sinh ngày 03/02/1982; giới tính: Nam; tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H2, sinh năm 1943 và bà Trần Thị G1, sinh năm 1944; có vợ là Đặng Thị L1, sinh năm 1984; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2015 và nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Ngày 22/11/2021 bị Công an huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ ngày từ ngày 06/6/2024 đến ngày 14/6/2024, từ ngày 15/6/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (bị cáo tại ngoại có mặt).

4. Hồ Thành, sinh ngày 20/10/1988; giới tính: Nam; tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/12; con ông Hồ T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1947; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ ngày từ ngày 06/6/2024 đến ngày 14/6/2024, từ ngày 15/6/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (bị cáo tại ngoại có mặt).

5. Thái Văn T2, sinh ngày 21/12/1977; giới tính: Nam; tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 07/12; con ông Thái Văn M, sinh năm 1946 và bà Lê Thị T3, sinh năm 1949; có vợ là Hoàng Thị T4, sinh năm 1978; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2001 và nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án, tiền sự: Không có; tiền sự ; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ ngày từ ngày 06/6/2024 đến ngày 14/6/2024, từ ngày 15/6/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (bị cáo tại ngoại có mặt).

6. Trần Văn C, sinh ngày 01/01/1977; giới tính: Nam; tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ố, sinh năm 1940 và bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1946; có vợ là Thái Thị T5, sinh năm 1978; có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2000 và nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không có; tiền sự; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo tại ngoại có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 06/6/2024 Phan Văn Q, Lê Đình T, Hồ T6, Thái Văn T2, Trần Văn C cùng ngồi uống cà phê tại quán C1 ở thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, sau đó rủ nhau và cùng thống nhất là đi về nhà của T6 ở thôn P, xã P, huyện P để đánh bạc bằng hình thức binh 09 cây. T2 đi mua bài, T6 lấy chăn trải ra ở góc trước cửa nhà làm chiếu bạc rồi cả nhóm cùng nhau đánh. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, thì có thêm Nguyễn Văn S đến cùng tham gia đánh.

Đến 15 giờ 45 phút thì bị Công an xã P, huyện P phát hiện bắt quả tang, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 10.000.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Trong đó: Số tiền thu giữ giữa sòng bạc là 8.230.000 đồng (Tám triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng), số tiền thu giữ trên người của Thái Văn T2 là 1.770.000 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) mục đích sử dụng đánh bạc.

Cụ thể: T6 sử dụng 1.580.000 đồng, khi bị bắt đang đặt cược giữa sòng 700.000 đồng; T sử dụng 1.060.000 đồng, khi bị bắt đang đặt cọc giữa sòng là 700.000 đồng, số tiền còn lại 540.000 đồng; Q sử dụng 1.250.000 đồng, thua bạc 700.000 đồng nên khi bị bắt còn 550.000 đồng; Song sử dụng 1.650.000 đồng, thắng bạc 1.700.000 đồng nên khi bị bắt có 3.350.000 đồng; T2 sử dụng 3.050.000 đồng, thua bạc 1.280.000 đồng khi bị bắt quả tang còn 1.770.000 đồng trong túi mục đích để đánh bạc; C sử dụng 1.500.000 đồng, khi bị bắt đang đặt cược giữa sòng 700.000 đồng .

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện đã thu giữ: Số tiền 8.230.000 đồng tiền Ngân hàng N thu tại chiếu bạc; 1.770.000 đồng tiền Ngân hàng N thu trên người của Thái Văn T2; 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 (một) lá bài Q cơ; 01 (một) lá bài K cơ và 01 (một) cái chăn vải màu xanh.

Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận hành vi phạm tội.

Tại Bản Cáo trạng số: 34/CT-VKS ngày 26/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định truy tố Hồ T6, Phan Văn Q, Lê Đình T, Nguyễn Văn S, Thái Văn T2, Trần Văn C về tội “Đánh bạc” theo quy định khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố.

- Về hình sự: Qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình sự và nhân thân của từng bị cáo. Đề nghị áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Phan Văn Q, Lê Đình T, Nguyễn Văn S, từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Đồng thời phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt Hồ T6, Thái Văn T2, Trần Văn C từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 10.000.000 đồng là tang vật đánh bạc đang gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện P; tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tú lơ khơ 52 lá, 01 (một) lá bài Q cơ, 01 lá bài K cơ, 01 (một) cái chăn vải màu xanh.

Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội; không có ý kiến gì về hành vi, tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng cho các bị cáo không phải cách ly ra khỏi xã hội để có điều kiện giúp đỡ gia đình; các bị cáo hứa sẽ không vi phạm lần nào nữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp biên bản sự việc, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:

Vào khoảng 10 giờ 00 ngày 06/6/2024, Phan Văn Q, Lê Đình T, Hồ T6, Thái Văn T2, Trần Văn C, Nguyễn Văn S thực hiện hành vi đánh bạc hình thức binh 09 cây thắng thua bằng tiền bị bắt quả tang tại nơi ở của anh Hồ T6 với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng). Trong đó: Số tiền thu giữ giữa sòng bạc là 8.230.000 đồng (Tám triệu hai trăm ba mươi nghìn đồng), số tiền thu giữ trên người của Thái Văn T2 là 1.770.000 đồng (Một triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) mục đích sử dụng đánh bạc. Trần Văn T7 là người mua bài để đánh bạc; Hồ T6 là người sử dụng chỗ ở của mình vào việc đánh bạc nhưng không thu tiền xâu.

Hành vi của các bị cáo Phan Văn Q, Lê Đình T, Nguyễn Văn S, Hồ T6, Thái Văn T2 và Trần Văn C đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, vai trò của các bị cáo:

Xét năng lực hành vi của các bị cáo, thấy rằng các bị cáo đều là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì ham muốn thu lợi bất chính, được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài. Hành vi của các bị cáo ảnh hưởng đến tình hình quản lý trật tự xã hội tại đại phương. Trong vụ án này, các bị cáo có tính chất đồng phạm nhưng không có sự câu kết, bàn bạc, phân công trách nhiệm chặt chẽ nên mang tính đồng phạm đơn giản. Do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi tương xứng của mình.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong đó bị cáo Q, T, S trước đây đã bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng từ khi thi hành xong đến thời điểm phạm tội lần này đã hơn 03 năm. Đối với các bị cáo T6, T2, C đều không có tiền án, tiền sự.

Nên khi áp dụng hình phạt cũng cần xem xét cho các bị cáo được hưỡng các tình tiết giảm nhẹ là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không phạm vào tình tiết tăng nặng; có nơi cư trú rõ ràng. Các bị cáo Q, T, S tuy trước đó đã bị xử lý hành chính và đã nộp phạt, đến nay cũng đã quá thời hạn, mức độ phạm tội ít nghiêm trọng. Do đó, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 01/2022, ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo để không cần bắt phải chấp hành hình phạt tù mà cho hưởng án treo với sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương là đủ để răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét về nhân thân đối với các bị cáo Q, T, S trước đây đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nên cần áp dụng hình phạt bổ sung mỗi bị cáo là 10.000.000 đồng theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở.

[6] Về vật chứng:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) là số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc, đang tạm giữ tại tài khoản Chi cục thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá, 01 lá bài Q cơ, 01 lá bài K cơ, 01 cái chăn vải màu xanh, là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng.

[7] Về án phí: Các bị cáo Phan Văn Q, Lê Đình T, Nguyễn Văn S, Hồ T6, Thái Văn T2 và Trần Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Phan Văn Q, Lê Đình T, Nguyễn Văn S, Hồ T6, Thái Văn T2 và Trần Văn C phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đối với các bị cáo Phan Văn Q, Lê Đình T và Nguyễn Văn S.

- Xử phạt bị cáo Phan Văn Q: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Lê Đình T: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đối với Hồ T6, Thái Văn T2 và Trần Văn C.

- Xử phạt bị cáo Hồ T6: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt bị cáo Thái Văn T2: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Xử phạt bị cáo Trần Văn C: 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Phan Văn Q, Lê Đình T và Hồ T6 cho Ủy ban Nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn S, Thái Văn T2 và Trần Văn C cho Ủy ban Nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền Ngân hàng N: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) theo ủy nhiệm chi lập ngày 29/8/2024 thuộc tài khoản 3949.0.1054083.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 lá; 01 lá bài Q cơ; 01 lá bài K cơ và 01 cái chăn vải màu xanh do không còn giá trị sử dụng. Theo mô tả biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, chứng cứ ngày 29/8/2024. Tất cả vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Phan Văn Q, Lê Đình T, Nguyễn Văn S, Hồ T6, Thái Văn T2 và Trần Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Án xử công khai, báo cho các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - PV06 Công an tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - Công an huyện Phong Điền;
  • - CCTHADS huyện Phong Điền;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Lưu án văn HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Đạt

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự - tội đánh bạc

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Quý và đồng phạm phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger