Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 14 – 9 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Thanh Tuấn.

Bà Dương Thị Tú Phương.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Út Em - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo: Đinh Xuân H, sinh ngày 08/8/1984; nơi sinh: huyện P, tỉnh Hà Nam; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: số B M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Con ông Đinh Xuân N, sinh năm 1955 và bà Phạm Thị P, sinh năm 1956; vợ: Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1986; con: Đinh Xuân T1, sinh năm 2013; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2023 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

2. Bị cáo: Nguyễn Hoàng Quốc T2, sinh ngày 03/10/1988; nơi sinh: B, Cần Thơ; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: 65k/8 Khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Văn T3, sinh năm 1964 và bà Phạm Thị N1, sinh năm 1965; vợ: Nguyễn Thị Bé P1, sinh năm 1996; con: Có 03 người, lớn nhất, sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/12/2023 đến ngày 02/4/2024 cho bảo lĩnh. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại:

+ Ông Vưu Hùng K, sinh ngày 27 tháng 02 năm 1984. Địa chỉ: số A, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Nguyễn Quốc C, sinh ngày 13 tháng 10 năm 1993. Địa chỉ: 1, đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt tại phiên tòa)

+ Ông Võ Hoàng L, sinh ngày 26/4/1990 và bà Phan Thị Cẩm G, sinh ngày 14/5/1989. Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 14 giờ, ngày 02/12/2023, Võ Hoàng L cùng với vợ tên Phan Thị Cẩm G đi đến quán C1, đường B, phường X, Quận N, thành phố Cần Thơ để gặp bị cáo Đinh Xuân H và vợ bị cáo H tên Nguyễn Thị Cẩm T4 (do bị cáo H điện thoại hẹn gặp L). Bị cáo H yêu cầu vợ chồng L trả số tiền nợ 1.050.000.000 đồng nhưng L không đồng ý trả ngay mà xin có thời hạn để trả dần. Bị cáo H yêu cầu L đưa xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios G màu trắng, biển kiểm soát 66A-159.06 do chị G đứng tên cho bị cáo H giữ. Tuy nhiên, do trước đó L đã thế chấp chiếc xe trên cho Nguyễn Quốc C, sinh năm 1993, nơi cư trú: Đường C, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ với số tiền 400.000.000 đồng nên L không còn quản lý chiếc xe. Thấy vậy bị cáo H không đồng ý mà yêu cầu L định vị chiếc xe Vios G biển số 66A-159.06 hiện đang ở đâu. G dùng điện thoại định vị xe thông qua hệ thống và camera hành trình thì phát hiện chiếc xe Vios G biển số 66A-159.06 đang ở khu vực chợ P4, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Sau đó bị cáo H yêu cầu L, G, bị cáo T2 đi cùng với bị cáo H lên xe ô tô nhãn hiệu Suzuki XL7 màu nâu, biển kiểm soát 65A- 281.69 để đi đến địa điểm chiếc xe Vios G biển số 66A-159.06 đang đậu, bị cáo H nói với vợ chồng L đi đến đó nhìn thấy xe rồi về. Bị cáo H biết Phạm Đắc P2 – nhân viên trong công ty của L đang giữ chìa khóa phụ của xe Vios G nên bị cáo H gọi điện kêu P2 mang chìa khóa đưa cho mình và cho P2 đi cùng đến P. L điều khiển xe Suzuki XL7 biển kiểm soát 65A-281.69 chở G, bị cáo H, bị cáo T2 và P2 xuất phát từ thành phố Cần Thơ đi đến chợ P4. Khi đến khu vực sân bóng đá G, L dừng xe, bị cáo T2 và bị cáo H bước xuống xe đi vào bên trong khu vực sân bóng đá, khoảng 02 phút sau bị cáo H đi ra và nói đúng xe rồi. Sau đó bị cáo T2 tiếp tục đi về hướng lối vào sân bóng Gia P3, bị cáo H nói là lấy xe về cho người chị xem xe, L mới nói là “không được đâu, xe này C đang giữ mà, lấy là C quậy đó” nhưng bị cáo H không chịu và nói “kệ đi, lấy về Cần Thơ rồi tính tiếp” khi bị cáo H nói, P3 đứng cạnh nghe rõ. Bị cáo H lấy chìa khóa phụ của xe ô tô kêu P3 vào lấy, P3 không đồng ý lấy, bị cáo H kêu L vào lấy, L cũng không đồng ý lấy, bị cáo H mới đưa cho bị cáo T2, bị cáo T2 nhận chìa khóa rồi đi bộ thẳng đến vị trí đậu xe, dùng chìa khóa phụ mở khóa xe và leo lên xe điều khiển xe ô tô Vios G biển số 66A-159.06 chở bị cáo H chạy trước, L chạy xe Suzuki XL7 biển số 65A-281.69 chở G và P3 chạy sau về hướng Cần Thơ. Khi chạy được một đoạn, bị cáo H yêu cầu dừng xe lại và kêu bị cáo T2 đổi vị trí lái xe với L. Lúc này L chạy xe ô tô Vios G màu trắng 66A-159.06 chở bị cáo H, còn bị cáo T2 chạy xe Suzuki XL7 65A-281.69 màu nâu chở G và P3. Khi L đang lái xe, bị cáo H ngồi bên cạnh yêu cầu L gọi điện cho bên lắp định vị của xe V để nhờ họ tắt định vị giúp để cho C không biết lấy xe và C không chặn lấy xe lại. Sau khi định vị của xe đã được tắt, L tháo luôn camera hành trình của chiếc xe vừa lấy được. Khi cả hai xe chạy về đến khu vực cầu C, bị cáo H tiếp tục kêu L và bị cáo T2 đổi xe. Sau đó, L chạy xe Suzuki XL7 biển số 65A-281.69 chở G về nhà tại ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Bị cáo T2 điều khiển xe ô tô Vios G màu trắng biển số 66A-159.06 chở bị cáo H về nhà bị cáo H rồi bị cáo T2 chạy xe về nhà bị cáo T2 tại phường T, quận B cất giấu xe.

Đến sáng ngày 03/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P phối hợp với Công an quận C mời Võ Hoàng L, Phạm Đắc P2, Phan Thị Cẩm G, bị cáo Đinh Xuân H, bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc T2, Nguyễn Quốc C đến Công an quận C, thành phố Cần Thơ để tiến hành làm việc thì bị cáo T2 đã giao nộp xe ô tô Toyota Vios G biển số 66A-159.06 và tài sản có bên trong xe cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 62 ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, kết luận:

  • Xe ô tô nhãn hiệu: Toyota, số loại: Vios G, số máy 2NRX745193, số khung RL4B23F33M5117216, màu sơn: trắng, số chỗ ngồi: 05, biển số đăng ký: 66A-159.06, ngày đăng ký 02/12/2021, đã qua sử dụng, tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị là 494.828.600 đồng (Bốn trăm chín mươi bốn triệu, tám trăm hai mươi tám nghìn, sáu trăm đồng);
  • 22 (hai mươi hai) tấm sàn gỗ nhựa nhãn hiệu Hplus, kích thước mỗi tấm 1,08m x 0.18m (Tổng cộng 4,2m2), chưa qua sử dụng; Một máy bắn đinh ốc hiệu JOK F50, đã qua sử dụng; Một máy cắt điện hiệu NSK Dekion, đã qua sử dụng; Hai cục P5 hiệu Makita 18v, đã qua sử dụng; Một máy bắn vít hiệu Makita, đã qua sử dụng. Tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị tổng cộng là 2.250.000 đồng (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng).

Tổng tài sản định giá có giá trị thành tiền là 497.078.600 đồng (Bốn trăm chín mươi bảy triệu, không trăm bảy mươi tám nghìn, sáu trăm đồng).

Vật chứng vụ án:

Trả cho Phan Thị Cẩm G: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA, số loại: VIOS G, số máy 2NRX745193, số khung RL4B23F33M5117216, màu sơn: trắng, số chỗ ngồi: 05, biển số đăng ký: 66A-159.06; 02 (hai) chìa khóa xe có biểu tượng logo của hãng xe TOYOTA; 01 (một) giấy biên nhận giữ bản chính giấy đăng ký phương tiện số LN2111184730728; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số 0238683 xe VIOS G biển số đăng ký 66A-159.06; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô. Chủ xe Phan Thị Cẩm G số P-22/CTH/HHA/5101/300029; 01 (một) giấy chứng nhận bảo hiểm số P-22/CTH/HHA/5106/001339, chủ xe Phan Thị Cẩm G.

Trả lại cho Văn Thanh B: 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu Suzuki, số loại XL7, màu sơn: Xanh, biển số 65A-281.69, số máy: K15BT1201831, số khung: MHYANC22SLJ908730.

Trả lại cho Vưu Hùng K: 22 (hai mươi hai) tấm sàn gỗ nhựa nhãn hiệu Hplus; kích thước mỗi tấm 1,08 x 0,18 m (tổng cộng 4,2m2), tài sản chưa qua sử dụng; 01 (một) máy bắn đinh ốc hiệu JOK F50, đã qua sử dụng; 01 (một) máy cắt điện hiệu NSK DEKION, đã qua sử dụng; 02 (hai) cục pin hiệu MAKITA 18v, đã qua sử dụng; 01 (một) máy bắn vít hiệu MAKITA, đã qua sử dụng.

Trả lại cho Võ Hoàng L: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 plus màu trắng; số máy MKUQ2LL/A, số sê ri: C39RCRWGRWV; bên trong điện thoại gắn 01 (một) thẻ sim Viettel trên sim có số: 89840 48000 92723 2281. Số thuê bao 0886346168.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc T2: 01 (một) dấu tròn đỏ có chữ “Công ty TNHH T5”; M.S.D.N 1801748039.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A24, số sê-ri: R59W400AR2J; 01 (một) thẻ sim Mobi trên thẻ sim có số 8401221233399461. Số thuê bao 0936661882; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu tím, số máy NT322LL/A, số rê-ri FFWCF62GKXKQ, số IMEI: 356445107980689; 01 (một) thẻ sim Vinaphone số sê-ri: 898402000112035.

Tại bản Cáo trạng số: 26/CT-VKS ngày 13/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố bị cáo Đinh Xuân HNguyễn Hoàng Quốc T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Phước Long giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm:

Truy tố các bị cáo Đinh Xuân HNguyễn Hoàng Quốc T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Đinh Xuân HNguyễn Hoàng Quốc T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Xuân H từ 03 đến 04 năm tù.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc T2 từ 02 đến 03 năm tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo quy định.

Các bị cáo thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình; do không am hiểu pháp luật nên các bị cáo phạm tội, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các bị cáo có mặt tại tòa; người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Hồ sơ vụ án đã rõ nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 290 và 292 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Xuất phát từ bản tính xem thường pháp luật, vào khoảng 21 giờ ngày 02/12/2023 tại sân bóng đá G1 thuộc ấp N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Đinh Xuân H và bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc T2 có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios G, biển số đăng ký 66A-159.06, trên xe có: 22 (hai mươi hai) tấm sàn gỗ nhựa nhãn hiệu Hplus, kích thước mỗi tấm 1,08m x 0.18m (Tổng cộng 4,2m), chưa qua sử dụng; Một máy bắn đinh ốc hiệu JOK F50, đã qua sử dụng; Một máy cắt điện hiệu NSK Dekion, đã qua sử dụng; Hai cục P5 hiệu Makita 18v, đã qua sử dụng; Một máy bắn vít hiệu Makita, đã qua sử dụng của anh Vưu Hùng K. Tổng các tài sản tại thời điểm bị chiếm đoạt qua định giá có giá trị thành tiền là 497.078.600 đồng.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và toàn bộ chứng cứ thu thập được có lưu trong hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố các bị cáo Đinh Xuân HNguyễn Hoàng Quốc T2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[2.2] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình và cũng chính các bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác một cách có ý thức và chủ động. Do muốn lấy tiền nợ được nhanh chóng, các bị cáo tự ý chiếm đoạt tài sản của người khác một cách lén lúc, không cho người quản lý tài sản biết. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút, chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó, gây mất trật tự trị an tại địa phương mà các bị cáo vẫn cố tình thực hiện và thực hiện đến hoàn thành tội phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng hình phạt tù, tương xứng với hành vi của các bị cáo đã gây ra, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long mới đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội và cải tạo, giáo dục các bị cáo sớm trở về chung sống với cộng đồng, xã hội, là người có ích cho gia đình và cho xã hội.

[2.3] Hành vi thực hiện tội phạm của các bị cáo chỉ ở mức độ đồng phạm giản đơn, bị cáo H là người khởi xướng và chỉ đạo cho bị cáo T2 lấy xe đem về cho mình nên trong lượng hình bị cáo H phải nặng hơn so với bị cáo T2.

[2.4] Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; gia đình của các bị cáo đều có công cách mạng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng nên Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 hạ khung hình phạt cho các bị cáo, để thể hiện sự khoan hồng của Đảng và nhà nước ta.

[2.5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan đang tạm giữ 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A24, số sê-ri: R59W400AR2J; 01 (một) thẻ sim Mobi trên thẻ sim có số 8401221233399461. Số thuê bao 0936661882; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu tím, số máy NT322LL/A, số rê-ri FFWCF62GKXKQ, số IMEI: 356445107980689; 01 (một) thẻ sim Vinaphone số sê-ri: 898402000112035. Đây là tài sản của bị cáo Đinh Xuân HNguyễn Hoàng Quốc T2 có trước khi phạm tội; đồng thời đây là tài sản thiết yếu trong sinh hoạt hàng ngày; cả bị cáo H và bị cáo T2 đều có nhu cầu nhận lại nên áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho các bị cáo.

[2.7] Đối với hành vi “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” của bị cáo Đinh Xuân HNguyễn Quốc C trong thời gian từ tháng 09/2023 đến tháng 12/2023 xảy ra trên địa bàn quận N, thành phố Cần Thơ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P chuyển nguồn tin và tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N, thành phố Cần Thơ xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.8] Đối Phan Thị Cẩm G: Việc G đi đến P là do bị H khống chế; bị can H, bị can T2 không nói với G nội dung “ đến P để lấy trộm xe ô tô 66A-159.06”; quá trình thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản” của bị can H và bị can T2 thì G không có giúp sức hoặc bàn bạc để thực hiện hành vi phạm tội của HT2. Do đó hành vi của G không cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Phan Thị Cẩm G không biết thông tin về Nguyễn Quốc C và không trình báo Công an khi bị can T2, H lấy xe vì bị khống chế về mặt tinh thần là việc đang thiếu nợ H và về thời gian xảy ra lúc đêm khuya nên không thể trình báo Công an ngay do đó hành vi của G cũng không cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra không xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.9] Đối với Phạm Đắc P2: Việc P2 mang chìa khoá phụ xe 66A-159.06 cho H là do H yêu cầu và P2 chưa biết mục đích của H như thế nào, khi biết mục đích lấy xe của H thì P2 không đồng ý thực hiện theo yêu cầu của H và không giúp sức để thực hiện hành vi phạm tội nên hành vi của P2 không cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Khi H lấy trộm xe ô tô ViosG biển số đăng ký 66A-159.06 thì đã có trả lời điện thoại (qua Zalo) cho Nguyễn Quốc C, thông tin cho C biết H lấy xe. Về ý thức thì P2 cho rằng việc lấy xe là có chủ xe là G đi theo và hơn nữa bản chất đó là L thiếu nợ của H do đó không trình báo Công an ngay do đó hành vi của P2 cũng không cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra không xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.10] Đối với Võ Hoàng L: H kêu đổi lái xe giữa T2, L để L lái xe ô tô 66A-159.06 về Cần Thơ, xét thấy: Sau khi biết việc H quyết định lấy xe thì bản thân biết xe ô tô 66A-159.06 đã được giao cho Nguyễn Quốc C quản lý và sử dụng nên đã từ chối tham gia thực hiện việc lấy trộm xe với H; về mặt ý chí thì L không đồng tình với việc H, T2 lấy trộm xe ô tô 66A-159.06. Liêm bị ảnh hưởng lộ diện về mặt tinh thần, là người đang thiếu nợ tiền của H nên phải lệ thuộc. Mặt khác xét về động cơ, mục đích thì L không có động cơ, mục đích lấy trộm xe ô tô 66A-159.06. Do đó hành vi của L không cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đồng thời sự việc xảy ra đêm khuya đã bị phát hiện ngay nên không thể tố giác hành vi của H, T2. Do đó hành vi của L không đủ yếu tố cấu thành tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại Điều 390 Bộ luật Hình sự, Cơ quan điều tra không xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.11] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Đinh Xuân HNguyễn Hoàng Quốc T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Từ những phân tích nêu trên, xét lời luận tội của kiểm sát viên tham gia phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng có cơ sở chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Đinh Xuân HNguyễn Hoàng Quốc T2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  • - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Xuân H 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 04/12/2023.
  • - Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc T2 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án nhưng được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 04/12/2023 đến ngày 02/4/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho các bị cáo:

Trả cho bị cáo Nguyễn Hoàng Quốc T2 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Samsung Galaxy A24, số sê-ri: R59W400AR2J; 01 (một) thẻ sim Mobi trên thẻ sim có số 8401221233399461. Số thuê bao 0936661882.

Trả cho bị cáo Đinh Xuân H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu tím, số máy NT322LL/A, số rê-ri FFWCF62GKXKQ, số IMEI: 356445107980689; 01 (một) thẻ sim Vinaphone số sê-ri: 898402000112035.

(Tất cả tang vật trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/8/2024).

4. Án phí hình sự: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của UBTTVQH buộc các bị cáo Đinh Xuân H, Nguyễn Hoàng Quốc T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm hình sự công khai có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện KSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - CQĐT Công an huyện Phước Long;
  • - Phòng HSNVcông an huyện Phước Long;
  • - Người tham gia tô tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đẹp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử Đinh Xuân H 02 (hai) năm. 03 (ba) tháng tù Tuyên xử Nguyễn Hoàng Quốc T 02( hai) năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger