Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHĨA HÀNH

TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:31/2024/HS-ST

Ngày 11 - 9 - 2024.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Từ Văn Khánh
  • + Bà Trịnh Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng – Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 16/8/2028, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87 /2024/QĐXXST-HS, ngày 27 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

- Phạm Đình T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 13/10/1996; HKTT: Tổ dân phố A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; trình độ học vấn 05/12; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Không xác định con bà: Phạm Thị Hồng V; vợ: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: 02

  • + Ngày 30/01/2024 bị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền, chưa thi hành xong.
  • + Ngày 06/02/2024 bị Chủ tịch ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 03/QĐ-XPHC về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền, chưa thi hành xong.

- Nhân thân:

  • + Ngày 27/8/2010, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ra quyết định đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi trộm cắp tài sản, T chấp hành xong vào ngày 30/5/2012.
  • + Ngày 30/6/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa xử phạt 9 tháng tù về tội trộm cắp tàn sản, T chấp hành xong vào ngày 03/01/2016.
  • + Ngày 04/01/2023 bị Công an thị trấn S, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chấp ma túy, hình thức phạt cảnh cáo.
  • + Ngày 16/5/2023 bị Công an thị trấn S, huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chấp ma túy, hình thức phạt cảnh cáo.
  • + Ngày 10/01/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T ra quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/8/2023, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn S ra quyết định dừng quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 11/8/2023 bị Ủy ban nhân dân thị trấn S ra quyết định số 158/QĐ-UBND cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng đối với T từ ngày 11/8/2023 đến ngày 11/02/2024; ngày 15/02/2024 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn S ra quyết định số 29/QĐ-UBND quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú từ ngày 11/02/2024 đến ngày 11/02/2025.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/6/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu H – SN 1973. (Vắng mặt)

Trú tại: Thôn T - xã H - huyện N - tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 03/04/2024, Phạm Đình T đến quán internet “BINBON” ở thị trấn S, huyện T, thì lúc này có Nguyễn Hữu T1 là chỗ thân quen nhau với T đang chơi game và để xe mô tô biển kiểm soát 76X2-5463 có gắn sẵn chìa khóa tại quán nên T tự ý lấy xe mô tô sử dụng. Để có tiền tiêu xài cá nhân và chơi game, T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76X2-5463 đi về hướng xã H, huyện N nhằm mục đích tìm nhà người dân để trộm cắp tài sản. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến địa phận thuộc xã H, huyện N, T phát hiện nhà bà Nguyễn Thị K cửa. T điều khiển xe mô tô dừng gần trước cổng nhà, quan sát thấy nhà không có ai, xung quanh vắng người nên T leo qua hàng rào lưới B40 vào bên trong sân nhà và trèo lên mái nhà, dỡ ngói vào bên trong, lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động cảm ứng ZTE Blade A31 Plus màu xám và một bao lì xì màu đỏ bên trong có số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng), sau đó T trèo qua bờ tường xi măng sang vườn nhà người dân bên cạnh, đi ra nơi để xe mô tô và điều khiển xe chạy về lại quán Internet “BINBON”, trả lại xe cho T1 rồi T đi bộ về nhà. Sau đó, T đem điện thoại di động trộm cắp được đến tiệm Đ ở thị trấn S, huyện T để chạy lại chương trình. T sử dụng số tiền 600.000 đồng đã trộm cắp được tiêu xài cá nhân và đi đến tiệm Đ1 ở thị trấn S, huyện T nộp tiền vào tài khoản Momo của T với số tiền 305.000 đồng (Ba trăm lẻ năm nghìn đồng) để chơi game.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng ZTE Blade A31 Plus màu xám; Imeil: 863202060248729, Imei2: 863202060266747, tình trạng đã qua sử dụng có giá trị 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

* Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKS-NH ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Phạm Đình T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

+ Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt bị cáo Phạm Đình T từ 09 đến 12 tháng tù, thời gian tính từ ngày 21/6/2024.

- Dân sự: Không có yêu cầu nên miễn xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, trình tự, thủ tục tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2] Tại phiên toà lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 03/04/2024, bị cáo Phạm Đình T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76X2-5463 đi về hướng xã H, huyện N nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi đến địa phận thuộc xã H, huyện N, bị cáo T phát hiện nhà bà Nguyễn Thị H khóa cửa. Bị cáo T điều khiển xe mô tô dừng gần trước cổng nhà, quan sát thấy nhà không có ai, xung quanh vắng người nên bị cáo leo qua hàng rào lưới B40 vào bên trong sân nhà và trèo lên mái nhà, dỡ ngói vào bên trong, lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động cảm ứng ZTE Blade A31 Plus màu xám và một bao lì xì màu đỏ bên trong có số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) rồi trèo ra ngoài tẩu thoát.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 22/5/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng ZTE Blade A31 Plus màu xám; Imeil: 863202060248729, Imei2: 863202060266747, tình trạng đã qua sử dụng có giá trị 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng).

Vào ngày 30/01/2024, bị cáo Phạm Đình T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền và ngày 06/02/2024 Phạm Đình T bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, hình thức phạt tiền.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính thì tính đến ngày 03/4/2024, bị cáo Phạm Đình T vẫn chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Vậy hành vi của bị cáo Phạm Đình T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo gây dư luận xấu trong xã hội, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Tư Nghĩa xử phạt tù về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và nhiều lần bị xử lý hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không tu sửa bản thân mà tiếp tục có hành vi “Trộm cắp tài sản” chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật nên cần xử phạt bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4] Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt vì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về phần dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu nên miễn xét.

[6] Trong vụ án này chiếc xe mô tô biển kiểm soát 76X2-5463 thuộc quyền quản lý của anh Nguyễn Hữu T1 anh T1 không biết việc bị cáo tự ý lấy xe đi Trộm cắp tài sản nên cơ quan Công an đã trả lại xe cho chủ sở hữu là có căn cứ.

- Đối với ông Trịnh Hoài L (chủ tiệm điện thoại) là người chạy lại chương trình điện thoại cho bị cáo T và ông Huỳnh Minh V1 (chủ tiệm điện thoại Minh V1) là người nộp số tiền 305.000 đồng vào tài khoản MoMo của T. Quá trình điều tra, xác định ông L và ông V1 hoàn toàn không biết điện thoại và số tiền trên là tài sản do bị cáo T trộm cắp mà có nên cơ quan Điều tra không xem xét xử lý là có căn cứ.

[7] Về án phí: Bị cáo Phạm Đình T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[8] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hành phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
    • - Khoản 1 Điều 292; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Đình T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
    • - Xử phạt: Bị cáo Phạm Đình T 01 (Một) năm tù, thời gian tính từ ngày 21/6/2024.
  3. Dân sự: Không có yêu cầu.
  4. Về án phí: Bị cáo Phạm Đình T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.

Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
  • - VKSND huyện Nghĩa Hành;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Nghĩa Hành;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Nghĩa Hành;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Nghĩa Hành;
  • - Chi cục THADS huyện Nghĩa Hành;
  • - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phạm Hải Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger