Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/KDTM-ST

Ngày: 30-8-2024.

V/v Tranh chấp hợp đồng

mua bán hàng hóa.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Thị Ngọc.
  2. Bà Nguyễn Phước Trinh.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đào Văn Tiền - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 07/2024/TLST-KDTM ngày 06 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 358/2024/QĐXXST-KDTM ngày 28 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 424/2024/QĐST-KDTM ngày 31 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH M.

Địa chỉ: A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Quốc Vân T – Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Ông Phan Tấn T1, sinh năm: 1960 (xin vắng mặt);
  2. Ông Ngô Thanh H, sinh năm: 1971 (xin vắng mặt);

Địa chỉ liên lạc: Số A T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Công ty TNHH S1.

Địa chỉ: Số A, Đường số A, Ấp F, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện pháp luật: Bà Nguyễn Thị H1, chức vụ – Giám đốc. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A B, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 14/6/2022, lời khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn là Công ty TNHH M - có người đại diện theo ủy quyền là ông Phan Tấn T1 và ông Ngô Thanh H cùng thống nhất trình bày:

Nguyên giữa Công ty TNHH M (gọi tắt là Công ty M) và Công ty TNHH S1 (gọi tắt là Công ty S1) có ký các Hợp đồng gia công may xuất khẩu như sau:

  1. Hợp đồng số 0331/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 03/3/2022;
  2. Hợp đồng số 0366/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 05/3/2022;
  3. Hợp đồng số 0367/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 05/3/2022
  4. Hợp đồng số 0452/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 22/3/2022;
  5. Hợp đồng số 0518/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 01/4/2022;
  6. Hợp đồng số 9564/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 12/4/2022.

Tổng giá trị các hợp đồng may gia công là: 1.050.078.330 đồng (một tỷ, năm mươi triệu, bảy mươi tám ngàn, ba trăm ba mươi đồng).

Giá trị nguyên phụ liệu Công ty M đã giao cho Công ty S1 gia công là: 2.563.189.000 đồng (hai tỷ, năm trăm sáu mươi ba triệu, một trăm tám mươi chín ngàn đồng)

Ngày 17/5/2022 và ngày 01/6/2022 Công ty S1 có văn bản gửi Công ty M thông báo đã gia công và final đạt với số lượng 27.522 cái, nếu Công ty M không giải quyết về vấn đề thanh toán thì Công ty S1 sẽ bán thành phẩm (số lượng 27.522 cái) và các nguyên phụ liệu (khoảng 33.000 cái) của Công ty M để để lấy tiền chi trả các khoản nợ của Công ty S1.

Theo Hợp đồng gia công may xuất khẩu thỏa thuận, Công Ty M sẽ thanh toán 100% tiền gia công cho Công ty S1 bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt sau khi xuất hàng 30 ngày (Final đạt) và không có bất kỳ khiếu nại từ phía khách hàng. Trường hợp hàng không đạt chất lượng (Final không đạt) thì thời gian thanh toán là sau khi có phản hồi chất lượng của khách hàng. Trên thực tế, Công ty S1 đã không thực hiện đúng Hợp đồng, vi phạm tiến độ giao hàng (theo Điều 2): không giao hàng khi đến hạn, buộc Công ty M giao tiền trước rồi mới giao hàng.

Cũng theo Hợp đồng Gia C, Công ty S1 không được giao nguyên phụ liệu của Công ty M cho đơn vị khác gia công sản xuất nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của Công ty C1. Như vậy, việc Công ty S1 đưa hàng của Công ty M cho đơn vị khác gia công là không thực hiện đúng theo hợp đồng và thực tế các đơn vị nhận gia công cho Phương L1 đã không đảm bảo được chất lượng (do giá gia công nhận lại thấp hơn đơn giá mà Công ty S1 đã nhận gia công từ Công ty M). Vì vậy Công ty M tạm dùng thực hiện nghĩa vụ thanh toán do Công ty S1 không thực hiện đúng hợp đồng là có căn cứ theo hợp đồng đã ký.

Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH M, chúng tôi buộc lòng phải khởi kiện Công ty TNHH S1 ra Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét:

+ Tuyên hủy bỏ các hợp đồng gia công giữa Công ty TNHH M và Công ty TNHH S1:

  1. Hợp đồng số 0331/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 03/3/2022;
  2. Hợp đồng số 0366/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 05/3/2022;
  3. Hợp đồng số 0367/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 05/3/2022;
  4. Hợp đồng số 0452/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 22/3/2022,
  5. Hợp đồng số 0518/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 01/4/2022;
  6. Hợp đồng số 0564/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 12/4/2022.

+ Buộc Công ty TNHH S1 trả lại nguyên liệu, phụ liệu do Công ty TNHH M giao cho Công ty S1 để thực hiện hợp đồng và bán thành phẩm, thành phẩm đã gia công từ nguyên, phụ liệu của Công ty TNHH M. Trường hợp không trả bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền trị giá là 2.563.189.000 đồng (hai tỷ, năm trăm sáu mươi ba triệu, một trăm tám mươi chín ngàn đồng); Trường hợp một phần không trả bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền trị giá tương ứng với phần đó.

* Ngày 27/8/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phan Tấn T1 có bản tự khai xác định lại yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Nguyên giữa Công ty TNHH M (gọi tắt là Công ty M) và Công ty TNHH S1 (gọi tắt là Công ty S1) có ký các Hợp đồng gia công may xuất khẩu như sau:

  1. Hợp đồng số 0331/GC2022/CB-PL ngày 03/3/2022;
  2. Hợp đồng số 0366/GC2022/CB-PL ngày 05/3/2022;
  3. Hợp đồng số 0367/GC2022/CB-PL ngày 05/3/2022;
  4. Hợp đồng số 0452/GC2022/CB-PL ngày 22/3/2022;
  5. Hợp đồng số 0518/GC2022/CB-PL ngày 01/4/2022;
  6. Hợp đồng số 0564/GC2022/CB-PL ngày 12/4/2022.

Tổng giá trị các hợp đồng may gia công (tiền công may) là: 1.050.078.330 đồng (Một tỷ, năm mươi triệu, bảy mươi tám ngàn, ba trăm ba mươi đồng).

Giá trị nguyên phụ liệu Công ty M đã giao cho Công ty S1 gia công là: 2.563.189.000 đồng (Hai tỷ, năm trăm sáu mươi ba triệu, một trăm tám mươi chín ngàn đồng)

Ngày 17/5/2022 và ngày 01/6/2022 Công ty S1 có văn bản gửi Công ty M thông báo đã gia công và final đạt với số lượng 27.522 cái, nếu Công ty M không giải quyết về vấn đề thanh toán thì Công ty S1 sẽ bán thành phẩm (số lượng 27.522 cái) và các nguyên phụ liệu (số lượng 33.000 cái) của Công ty M để để lấy tiền chi trả các khoản nợ của Công ty S1.

Theo nội dung thỏa thuận của hợp đồng gia công, Công ty M sẽ thanh toán 100% tiền gia công cho Công ty S1 bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt sau khi xuất hàng 30 ngày (Final đạt) và không có bất kỳ khiếu nại từ phía khách hàng. Trường hợp hàng không đạt chất lượng (Final không đạt) thì thời gian thanh toán là sau khi có phản hồi chất lượng của khách hàng. Trên thực tế, Công ty S1 đã không thực hiện đúng Hợp đồng, vi phạm tiến độ giao hàng (theo Điều 2): không giao hàng khi đến hạn, buộc Công ty M giao tiền trước rồi mới giao hàng.

Cũng theo Hợp đồng Gia C, Công ty S1 không được giao nguyên phụ liệu của Công ty M cho đơn vị khác gia công sản xuất nếu không có sự đồng ý bằng văn bản của Công ty C2. Như vậy, việc Công ty S1 đưa hàng của Công ty M cho đơn vị khác gia công là không thực hiện đúng theo hợp đồng và thực tế các đơn vị nhận gia công cho Phương L1 đã không đảm bảo được chất lượng (do giá gia công nhận lại thấp hơn đơn giá mà Công ty S1 đã nhận gia công từ Công ty M). Vì vậy Công ty M tạm dừng thực hiện nghĩa vụ thanh toán do Công ty S1 không thực hiện đúng hợp đồng là có căn cứ theo hợp đồng đã ký.

Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty TNHH M, Công ty chúng tôi buộc lòng phải khởi kiện Công ty TNHH S1 ra Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét:

  1. Tuyên hủy bỏ các hợp đồng gia công: Số 0331/GC2022/CB-PL ngày 03/3/2022; Số 0366/GC2022/CB-PL ngày 05/3/2022; Số 0367/GC2022/CB-PL ngày 05/3/2022; Số 0452/GC2022/CB-PL ngày 22/3/2022; Số 0518/GC2022/CB-PL ngày 01/4/2022; Số 0564/GC2022/CB-PL ngày 12/4/2022;
  2. Buộc Công ty S1 trả lại giá trị nguyên phụ liệu mà Công ty M đã giao cho Công ty S1 số tiền là: 2.563.189.000 (Hai tỷ, năm trăm sáu mươi ba triệu, một trăm tám mươi chín ngàn đồng).

* Quá trình giải quyết vụ án và bị đơn do bà Nguyễn Thị H1 là người đại diện theo pháp luật trình bày:

I. Về Hợp Đồng Liên Quan Giữa Các Bên

  1. Nguyên vào các tháng 11 và 12 năm 2021, Công ty TNHH L3 (gọi tắt là Công ty L3) do Ông Phan Duy L làm Giám Đốc; Mã số thuế: 0314943372; Trụ sở Công ty tại địa chỉ số C, đường B, phường T, Tp T, Thành phố Hồ Chí Minh. Được sự ủy quyền của Công ty L3 (Giấy ủy quyền ký ngày 01/11/2021) giao cho Bà Nguyễn Thị H1 làm đại diện để làm việc trực tiếp với khách hàng về các hợp đồng gia công may mặc, đơn giá, quản lý sản xuất và thanh toán công nợ với khách hàng.

Cùng thời gian trên, Công ty L3 đã ký kết 05 (Năm) hợp đồng gia công may mặc xuất khẩu với Công ty TNHH M (gọi tắt là Công ty M) do Ông Trần Quốc T2 làm Tổng Giám đốc; Mã số thuế là: 0314097546; Địa chỉ trụ sở chính tại số B T, phường T, quận T, TP . và địa chỉ mới hiện nay là: Tầng trệt, Block B, Số D T, phường H, Quận T, Tp ., các hợp đồng cụ thể, gồm:

  • Hợp đồng gia công số 1180/GC2021/GP-HS. Ký ngày 11/11/2021
  • Hợp đồng gia công số 1193/GC2021/GP-HS. Ký ngày 15/11/2021
  • Hợp đồng gia công số 1216/GC2021/GP-HS. Ký ngày 16/11/2021
  • Hợp đồng gia công số 1430/GC2021/GP-HS. Ký ngày 21/12/2021
  • Hợp đồng gia công số 1432/GC2021/GP-HS. Ký ngày 21/12/2021

Tổng giá trị 05 (Năm) hợp đồng gia công may xuất khẩu có giá trị là: 1.159.515.936 đồng (Một tỷ, một trăm năm mươi chín triệu, năm trăm mười lăm nghìn, chín trăm ba mươi sáu đồng).

Căn cứ vào bảng công nợ đã được xác nhận (trao đổi qua zalo) giữa Công ty M và Công ty L3, cụ thể:

Công ty L3 đã giao hàng thành phẩm cho Công ty M từ ngày 11/01/2022 đến ngày 06/04/2022 với tổng số tiền đã xuất hóa đơn GTGT là 1.085.200.098 đồng (Một tỷ, không trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm nghìn, không trăm chín mươi tám đồng) và tổng số tiền không xuất hóa đơn (đã được xác nhận trả tiền mặt) là 95.061.456 đồng (Chín mươi lăm triệu, không trăm sáu mươi mốt nghìn, bốn trăm năm mươi sáu đồng). Tổng cộng số tiền công nợ Công ty M phải trả cho Công ty L3 là 1.180.261.554 đồng (Một tỷ, một trăm tám mươi triệu, hai trăm sáu mươi một nghìn, năm trăm năm mươi bốn đồng).

Công Ty M đã thanh toán công nợ cho Công ty L3 với tổng cộng số tiền là 817.278.181 đồng (T3 trăm mười bảy triệu, hai trăm bảy mươi tám nghìn, một trăm tám mươi mốt đồng).

- Đến nay, Công ty M còn nợ tiền gia công may của Công ty L3 là 362.983.373 đồng (Ba trăm sáu mươi hai triệu, chín trăm tám mươi ba nghìn, ba trăm bảy mươi ba đồng). Theo hợp đồng công nợ đã quá thời hạn thanh toán vào các ngày 22/03/2022 và 21/04/2022.

  1. Nguyên vào các tháng 11 và 12 năm 2021, Công ty TNHH D (gọi tắt là Công ty D) do Ông Phan Duy L làm Giám Đốc; Mã số thuế: 0313126988; Trụ sở công ty tại địa chỉ số H đường Đ, phường T, Quận I, TP .. Được sự ủy quyền của Công ty D (Giấy ủy quyền ký ngày 01/11/2021) giao cho Bà Nguyễn Thị H1 làm đại diện để làm việc trực tiếp với khách hàng về các hợp đồng gia công may mặc, đơn giá, quản lý sản xuất và thanh toán công nợ với khách hàng.

Cùng thời gian trên, Công ty D đã ký kết 07 (B) hợp đồng gia công may mặc xuất khẩu với công ty TNHH M (gọi tắt là Công ty M), do Ông Trần Quốc T2 làm Tổng Giám đốc; Mã số thuế là: 0314097546; Địa chỉ trụ sở chính tại số B T, phường T, quận T, TP . và địa chỉ mới hiện nay là: Tầng trệt, Block B, Số D T, phường H, quận T, Tp ., gồm các hợp đồng sau:

  • Hợp đồng gia công số: 1249/GC2021/GP-TL. Ký ngày 22/11/2021
  • Hợp đồng gia công số:1248/GC2021/GP-TL. Ký ngày 06/12/2021
  • Hợp đồng gia công số:1247/GC2021/GP-TL. Ký ngày 06/12/2021
  • Hợp đồng gia công số: 1222/GC2021/GP-TL. Ký ngày 17/11/2021
  • Hợp đồng gia công số: 1223/GC2021/GP-TL. Ký ngày 17/11/2021
  • Hợp đồng gia công số: 1258/GC2021/GP-TL. Ký ngày 23/11/2021
  • Hợp đồng gia công số: 1369/GC2021/GP-TL. Ký ngày 11/12/2021

Tổng giá trị (07) hợp đồng may gia công có giá trị là 1.073.848.930 đồng (Một tỷ, không trăm bảy mươi ba triệu, tám trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm ba mươi đồng)

Căn cứ vào bảng công nợ đã được xác nhận (trao đổi qua zalo) giữa Công ty M và Công ty D, cụ thể:

Công ty D đã giao hàng thành phẩm cho Công ty M từ ngày 16/12/2021 đến ngày 12/04/2022 với tổng số tiền đã xuất hóa đơn GTGT là 928.093.977 đồng (Chín trăm hai mươi tám triệu, không trăm chín mươi ba nghìn, chín trăm bảy mươi bảy đồng) và tổng số tiền không xuất hóa đơn (đã được xác nhận trả bằng tiền mặt) là 167.698.674 đồng.

Tổng cộng số tiền công nợ Công ty M phải trả cho Công ty D là 1.095.792.651 đồng (Một tỷ, không trăm chín mươi lăm triệu, bảy trăm chín mươi hai nghìn, năm trăm sáu mốt đồng).

Công ty M đã thanh toán công nợ cho Công ty D với tổng cộng số tiền là 769.187.877 đồng (B trăm sáu mươi chín triệu, một trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm bảy mươi bảy đồng).

Đến nay, Công ty M còn nợ tiền gia công may quá hạn của Công ty D là 332.604.774 đồng (Ba trăm ba mươi hai triệu, sáu trăm linh bốn nghìn, bảy trăm bảy mươi bảy đồng). Theo hợp đồng công nợ đã quá thời hạn thanh toán vào các ngày 29/02/2022 và ngày 12/05/2022.

  1. Vào tháng 01 năm 2022, Công ty TNHH S1 (gọi tắt là Công ty S1) do Bà Nguyễn Thị H1 làm Giám đốc; Mã số thuế: 0317054879; Trụ sở công ty tại địa chỉ số A, đường số A, Ấp F, xã B, huyện C, TP ..

Công ty S1 đã ký kết 04 (Bốn) hợp đồng gia công may mặc xuất khẩu với công ty TNHH M (gọi tắt là Công ty M) do Ông Trần Quốc T2 làm Tổng Giám đốc; Mã số thuế là: 0314097546; Địa chỉ trụ sở chính tại số B T, phường T, quận T, TP . và địa chỉ mới hiện nay là: Tầng trệt, Block B, Số D T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, gồm các hợp đồng sau:

  • Hợp đồng gia công số: 0037/GC2022/GP-PL. Ký ngày 07/01/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0107/GC2022/GP-PL. Ký ngày 17/01/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0087/GC2022/GP-PL. Ký ngày 13/01/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0088/GC2022/GP-PL. Ký ngày 13/01/2022

Tổng giá trị 04 (Bốn) hợp đồng may gia công có giá trị là 478.048.560 đồng (Bốn trăm bảy mươi tám triệu, không trăm bốn mươi tám nghìn, năm trăm sáu mươi đồng).

Căn cứ vào bảng công nợ đã được xác nhận (trao đổi qua zalo) giữa Công ty M và Công ty S1, cụ thể:

- Công ty S1 đã giao hàng thành phẩm cho Công ty M từ ngày 22/02/2022 đến ngày 29/03/2022 với giá trị đã xuất hóa đơn GTGT là 516.292.445 đồng (Năm trăm mười sáu triệu, hai trăm chín mươi hai nghìn, bốn trăm bốn mươi lăm đồng).

Tổng cộng số tiền công nợ Công ty M đã trả cho Công ty S1 là 246.451.118 đồng (Hai trăm bốn mươi sáu triệu, bốn trăm năm mươi mốt nghìn, một trăm mười tám đồng).

- Đến nay, Công ty M còn nợ tiền gia công may của Công ty S1 là 269.841.327 đồng (Hai trăm sáu mươi chín triệu, tám trăm bốn mươi mốt nghìn, ba trăm hai mươi bảy đồng). Theo hợp đồng công nợ đã quá thời hạn thanh toán vào các ngày 22/03/2022 và ngày 29/04/2022.

  1. Từ tháng 02 đến tháng 04 năm 2022, Công ty TNHH S1 (gọi tắt là Công ty S1) do Bà Nguyễn Thị H1 làm Giám đốc; Mã số thuế: 0317054879; Trụ sở công ty tại địa chỉ số A, đường số A, Ấp F, xã B, huyện C, TP ..

Công ty S1 đã ký kết 13 (Mười ba) hợp đồng gia công may mặc xuất khẩu với Công ty TNHH M (gọi tắt là Công ty M) do Bà Trịnh Quốc Vân T làm đại diện pháp luật và ông Đồng Văn T4 – Người đại diện ký hợp đồng (theo giấy ủy quyền ký ngày 25 tháng 02 năm 2021); Mã số thuế là: 0315791323; Địa chỉ trụ sở chính tại số A T, phường T, quận T, TP . các hợp đồng cụ thể, gồm:

  • Hợp đồng gia công số: 0222/GC2022/CB-PL, Ký ngày 14/02/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0308/GC2022/CB-PL, Ký ngày 24/02/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0320/GC2022/CB-PL, Ký ngày 25/02/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0319/GC2022/CB-PL, Ký ngày 25/02/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0321/GC2022/CB-PL, Ký ngày 25/02/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0331/GC2022/CB-PL, Ký ngày 03/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0366/GC2022/CB-PL, Ký ngày 05/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0367-GC2022/CB-PL, Ký ngày 05/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0370-GC2022/CB-PL, Ký ngày 05/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0371-GC2022/CB-PL, Ký ngày 05/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0452/GC2022/CB-PL, Ký ngày 22/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0518/GC2022/CB-PL, Ký ngày 01/04/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0564/GC2022/CB-PL, Ký ngày 12/04/2022

Tổng giá trị 13 (Mười ba) hợp đồng gia công may mặc xuất khẩu có giá trị là 1.508.064.265 đồng (Một tỷ, năm trăm lẻ tám triệu, không trăm sáu mươi bốn nghìn, hai trăm sáu mươi lăm đồng).

Trong quá trình Công ty S1 đang thực hiện theo các hợp đồng may gia công trên, vào ngày 09/05/2022 Công ty M đã đơn phương tự ý hủy hợp đồng gia công may xuất khẩu và không đưa ra lý do gì đối với Công ty S1, cụ thể gồm 02 hợp đồng sau:

  • Hợp đồng gia công số: 0370-GC2022/CB-PL, Ký ngày 05/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0371-GC2022/CB-PL, Ký ngày 05/03/2022

- Tổng giá trị 02 (Hai) hợp đồng gia công may xuất khẩu trên là 245.160.000 đồng (Hai trăm bốn mươi lăm triệu, một trăm sáu mươi nghìn đồng).

Công ty S1 đã giao hàng thành phẩm và đã hoàn thành nghĩa vụ cho Công ty M với các hợp đồng gia công may mặc xuất khẩu gồm các hợp đồng sau:

  • Hợp đồng gia công số: 0222-GC2022/CB-PL, Ký ngày 14/02/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0308-GC2022/CB-PL, Ký ngày 24/02/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0320-GC2022/CB-PL, Ký ngày 25/02/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0319-GC2022/CB-PL, Ký ngày 25/02/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0321-GC2022/CB-PL, Ký ngày 25/02/2022

Tổng giá trị 05 (Năm) hợp đồng may gia công có giá trị là 239.169.445 đồng (Hai trăm ba mươi chín triệu, một trăm sáu mươi chín nghìn, bốn trăm bốn mươi lăm đồng).

Căn cứ vào bảng công nợ đã được xác nhận (trao đổi qua zalo) giữa Công ty M và Công ty S1, cụ thể:

Công ty S1 đã giao hàng thành phẩm cho Công ty M từ ngày 23/03/2022 đến ngày 13/04/2022 với tổng số tiền đã xuất hóa đơn GTGT là 241.012.404 đồng (Hai trăm bốn mươi một triệu, không trăm mười hai nghìn, bốn trăm lẻ bốn đồng).

Tổng cộng số tiền công nợ Công ty M đã trả cho Công ty S1 là 20.136.600 đồng (Hai mươi triệu, một trăm ba mươi sáu nghìn, sáu trăm đồng).

Đến nay, Công ty M còn nợ tiền gia công may của Công Phương L1 là 220.875.804 đồng (Hai trăm hai mươi triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn, tám trăm lẻ bốn đồng). Theo hợp đồng công nợ đã quá thời hạn thanh toán vào các ngày 23/04/2022 và ngày 13/05/2022.

  1. Hiện nay, tổng cộng số tiền các công nợ công ty M và Charming B1 đang còn nợ Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 là 1.180.305.278 đồng (Một tỷ, một trăm tám mươi triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, hai trăm bảy mươi tám đồng).

II. Về việc Công ty S1 không xuất hàng cho Công ty M

Thực tế, Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 thực hiện việc ký kết các hợp đồng may gia công đối với Công ty M và Charming B1 đều do Bà Nguyễn Thị H1 chịu trách nhiệm pháp lý cũng như việc thực hiện các nghĩa vụ liên quan được ghi trong hợp hợp đồng, cụ thể: đảm bảo đúng thời gian giao hàng, chất lượng hàng gia công, thực hiện công nợ... và trực tiếp trao đổi các vấn đề phát sinh (nếu có) trong quá trình thực hiện hợp đồng gia công đối với Công ty M và Charming B1.

Được biết, Công ty M và Charming Blue hiện nay có 02 pháp nhân khác nhau đứng tên trên giấy phép kinh doanh, nhưng trong quá trình hợp tác thực hiện các hợp đồng may gia công thì tất cả các tài liệu trao đổi, xác nhận công nợ của Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 đều do bộ phận nhân sự cùng một hệ thống quản lý của Công ty M và Charming B1 thực hiện. Ngoài ra, thông tin tại Chi cục thuế quận T về công ty TNHH M; Mã số thuế là: 0315791323; Địa chỉ trụ sở chính tại số A T, phường T, quận T, TP . do bà Trịnh Quốc V T làm đại diện pháp luật thì bà Trịnh Quốc Vân T còn đại diện các doanh nghiệp sau:

  • Chi nhánh Công ty TNHH M;
  • Chi nhánh 1 – Công ty TNHH MTV M.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các hợp đồng đã được ký kết phía Công ty M và Charming B1 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán tiền công nợ cho Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 theo quy định trong hợp đồng là sau khi xuất hàng 30 ngày. Mặc dù, các bên đã gặp nhau trao đổi nhiều lần nhưng Công ty M và Charming B1 vẫn không chịu thanh toán số tiền công nợ quá hạn và không đưa ra bất kỳ lý do nào về việc không thanh toán số tiền công nợ trên. Việc Công ty M và Charming B1 trong thời gian dài không trả tiền công nợ may gia công đã gây rất nhiều khó khăn cho phía Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 trong việc trả lương cho công nhân và các khoản chi phí khác như: trả tiền thuê nhà xưởng, tiền điện, nước, thuế... Trong thời gian qua, Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 đã phải vay mượn tiền bên ngoài với lãi suất cao để duy trì hoạt động của công ty... và bị các chủ nợ gây áp lực đòi tiền trong những ngày qua.

Để thúc đẩy nhanh chóng việc giải quyết các công nợ còn thiếu của Công ty M và Charming Blue đối với Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1. Ngày 17/05/2022, Công ty S1 đã gửi thông báo bằng văn bản đến Công ty M và Charming B1 đề nghị cho biết lý do việc đơn phương chấm dứt các hợp đồng đã ký kết trước đó giữa Công ty M và Công ty S1, qua đó yêu cầu Công ty M và M thanh toán hết số tiền còn nợ quá hạn đối với Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 là 1.180.305.278 đồng (Một tỷ, một trăm tám mươi triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, hai trăm bảy mươi tám đồng), nếu không trả tiền thì các công nợ đã quá hạn thanh toán, Công ty S1 sẽ tạm ngưng không xuất hàng và ngưng sản xuất đối với các hợp đồng may gia công xuất khẩu, gồm 06 hợp đồng sau:

  • Hợp đồng gia công số: 0331/GC2022/CB-PL, Ký ngày 03/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0366/GC2022/CB-PL, Ký ngày 05/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0367-GC2022/CB-PL, Ký ngày 05/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0452/GC2022/CB-PL, Ký ngày 22/03/2022
  • Hợp đồng ia công số: 0518/GC2022/CB-PL, Ký ngày 01/04/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0564/GC2022/CB-PL, Ký ngày 12/04/2022

Tổng giá trị 06 (Sáu) hợp đồng may gia công xuất khẩu có giá trị là 1.023.734.820 đồng (Một tỷ, không trăm hai mươi ba triệu, bảy trăm ba mươi bốn nghìn, tám trăm hai mươi đồng).

Ngày 04/06/2022, bà Hoàng A – Kế toán trưởng của Công ty M và Charming B1 đã điện thoại qua Zalo trao đổi với Bà Nguyễn Thị H1 – Giám đốc Công ty S1 cho biết: Công ty M và C sẽ giải quyết thanh toán các công nợ quá hạn cho Công ty L3, Tuấn L2, Phương L1 và Công ty S1 sẽ tiếp tục xuất hàng. Sau đó ngày 06/06/2022, Công ty S1 đã gửi thông báo bằng văn bản đến Công ty M về việc 02 bên đã xác nhận giải quyết công nợ quá hạn và việc xuất hàng tiếp theo như sau:

  1. Phía Công ty M và Charming B1 sẽ cử nhân viên đến Công ty S1 kiểm tra số lượng hàng đóng thùng mà trước đó đã được ra biên bản kiểm tra chất lượng đạt, đang lưu giữ tại Công ty S1, gồm: 04 mã hàng (#P/M/WKBB0005; #WHAU6120; #WHAU0021; #M4384195FS với tổng số là 27.522 cái). Sau khi kiểm tra số lượng xong, Công ty M và Charming B1 sẽ trả hết công nợ đã quá hạn thanh toán cho Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 với số tiền là 1.180.305.278 đồng (Một tỷ, một trăm tám mươi triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, hai trăm bảy mươi tám đồng).
  2. Khi Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 nhận đủ số tiền công nợ quá hạn là 1.180.305.278 đồng (Một tỷ, một trăm tám mươi triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, hai trăm bảy mươi tám đồng) của Công ty M trả thì Công ty S1 sẽ tiếp tục giao hàng thành phẩm cho Công ty M gồm 27.522 cái đã được công ty M và Charming Blue kiểm tra đạt chất lượng trước tháng 05/2022, với giá trị tiền gia công là 516.675.128 đồng (Năm trăm mười sáu triệu, sáu trăm bảy mươi lăm nghìn, một trăm hai mươi tám đồng) và sẽ thanh toán sau 30 ngày xuất hàng theo đúng thỏa thuận hợp đồng ký kết.
  3. Hai bên sẽ giải quyết dứt điểm các vấn đề trên từ ngày 06/06/2022 đến ngày 08/06/2022.

Ngày 07/06/2022 phía Công ty M đã cử 02 người đại diện đến Công ty S1 để kiểm tra số lượng hàng đã đóng thùng, tuy nhiên đến hết ngày 08/06/2022 phía Công ty M và Charming B1 vẫn không thanh toán số tiền công nợ quá hạn cho Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 như đã thỏa thuận (Công ty S1 có hình ảnh Carmera chứng minh 02 nhân viên của Công ty M và Charming Blue đến kiểm tra số lượng hàng và các nội dung trao đổi qua tin nhắn (Skype) của Công ty S1 gửi cho bà S là chủ của 02 Công ty M biết sự việc để giải quyết).

Từ các lý do trên, Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 nhận thấy Công ty M và Charming B1 có dấu hiệu lừa đảo để chiếm đoạt tiền gia công, tiền thuế VAT của Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1.

Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xem xét:

  1. Nguyên nhân dẫn đến việc Công ty S1 tạm ngưng sản xuất và không cho xuất 06 (Sáu) đơn hàng hợp đồng gia công may xuất khẩu đã ký giữa Công ty M và Công ty S1 như đã nêu trong đơn khởi kiện của Công ty M.
  2. Đề nghị Tòa án Nhân Dân Huyện Củ Chi thực hiện đối chiếu các giấy tờ liên quan đến công nợ giữa Công ty M, Charming Blue với Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1.
  3. Yêu cầu công ty M và Charming B1 phải thanh toán hết tiền công nợ quá hạn cho Công ty L3, Tuấn L2 và Phương L1 với số tiền là 1.180.305.278 đồng (Một tỷ, một trăm tám mươi triệu, ba trăm lẻ năm nghìn, hai trăm bảy mươi tám đồng).

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi:

- Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nội dung quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; việc Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định; thời hạn gửi Thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát cùng cấp đúng quy định; thời hạn gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn gửi hồ sơ đúng quy định, tuy nhiên vi phạm về thời hạn chuẩn bị đưa vụ án ra xét xử; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng thời gian, địa điểm được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định, việc tham gia hỏi tại phiên tòa đúng quy định. Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Về nội dung:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 178, Điều 179, Điều 180, Điều 181, Điều 182, Điều 183, Điều 312, Điều 314 Luật Thương mại.

- Chấp nhận yêu cầu tuyên hủy các Hợp đồng gia công đã ký kết giữa Công ty TNHH M và Công ty TNHH S1, gồm:

  1. Hợp đồng số Q331/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 03/3/2022;
  2. Hợp đồng số 0366/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 05/3/2022;
  3. Hợp đồng số 0367/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 05/3/2022;
  4. Hợp đồng số 0452/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 22/3/2022;
  5. Hợp đồng số 0518/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 01/4/2022;
  6. Hợp đồng số 9564/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 12/4/2022.

- Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu buộc Công ty TNHH S1 phải trả bằng tiền đối với số hàng hóa gia công trị giá là 2.563.189.000 đồng (Hai tỷ năm trăm sáu mươi ba triệu một trăm tám mươi chín nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ vào yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là: Tranh chấp về hợp đồng gia công theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Bị đơn có trụ sở tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn đề nghị đưa Công ty M, Công ty D và Công ty L3 vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Hội đồng xét xử xét thấy, Công ty M cũng như Công ty D và Công ty L3 là những pháp nhân độc lập, không ký kết các hợp đồng đang tranh chấp giữa Công ty M và Công ty S1 trong vụ án này, nên không phải là là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử, xét thấy:

[3.1] Các đương sự thống nhất các nội dung sau:

Công ty TNHH M và Công ty TNHH S1 đã ký kết các hợp đồng gia công may xuất khẩu như sau:

  • Hợp đồng gia công số: 0331/GC2022/CB-PL, ký ngày 03/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0366/GC2022/CB-PL, ký ngày 05/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0367-GC2022/CB-PL, ký ngày 05/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0452/GC2022/CB-PL, ký ngày 22/03/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0518/GC2022/CB-PL, ký ngày 01/04/2022
  • Hợp đồng gia công số: 0564/GC2022/CB-PL, ký ngày 12/04/2022

Tổng giá trị 06 (sáu) hợp đồng may gia công xuất khẩu là 1.023.734.820 đồng (Một tỷ, không trăm hai mươi ba triệu, bảy trăm ba mươi bốn nghìn, tám trăm hai mươi đồng).

Công ty TNHH M đã bàn giao nguyên, phụ liệu cho Công ty TNHH S1 để thực hiện hợp đồng gia công có giá trị là: 2.563.189.000 đồng (Hai tỷ, năm trăm sáu mươi ba triệu, một trăm tám mươi chín ngàn đồng).

[3.2] Về hình thức và chủ thể ký kết hợp đồng: Hợp đồng được lập thành văn bản phù hợp với quy định tại Điều 179 Luật Thương mại. Bà Trịnh Quốc Vân T, là người đại diện theo pháp luật của Công ty M và ông Đồng Văn T4 là người được bà T uỷ quyền và bà Nguyễn Thị H1 là người đại diện theo pháp luật của Công ty S1 ký kết hợp đồng là đúng chủ thể.

[3.3] Về nội dung của hợp đồng: Công ty S1 - Bên nhận gia công sử dụng nguyên liệu, vật liệu của Công ty M - Bên đặt gia công để thực hiện gia công theo mẫu của Công ty M đưa ra.

[3.4] Xét tính pháp lý của 06 Hợp đồng may gia công: Hợp đồng số Q331/GC2022/CB-PL; Hợp đồng số 0366/GC2022/CB-PL; Hợp đồng số 0367/GC2022/CB-PL; Hợp đồng số 0452/GC2022/CB-PL; Hợp đồng số 0518/GC2022/CB-PL; Hợp đồng số 9564/GC2022/CB-PL: Sáu (06) Hợp đồng may gia công nêu trên được người đại diện theo pháp luật của TNHH M và người đại diện theo pháp luật Công ty TNHH S1 ký kết trên cơ sở tự nguyện, xuất phát từ ý chí của hai bên giao kết, vì mục đích lợi nhuận. Nội dung, mục đích của 06 hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không vi phạm điều cấm của luật. Hình thức của 06 hợp đồng nêu trên đảm bảo theo quy định của pháp luật, có chữ ký và dấu của 2 công ty. Vì vậy 06 hợp đồng nêu trên có hiệu lực theo quy định tại điều 117 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 179 Luật thương mại nên được pháp luật bảo vệ, các bên trong hợp đồng phải thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ đã cam kết trong hợp đồng. Theo quy định tại Điều 552 Bộ luật dân sự 2015, bên nhận gia công phải trả đủ tiền vào thời điểm nhận sản phẩm, trừ trường hợp có các thỏa thuận khác. Tại hợp đồng, TNHH M và Công ty TNHH S1 cũng đã thỏa thuận: Công ty M sẽ thanh toán 100% tiền gia công cho Công ty S1 bằng chuyển khoản hoặc tiền mặt sau khi xuất hàng 30 ngày (final đạt) và không có bất kỳ khiếu nại nào từ khách hàng. Trường hợp hàng không đạt chất lượng (final không đạt) thì thời gian thanh toán là sau khi có phản hồi chất lượng của khách hàng. Như vậy, Công ty TNHH M chỉ có nghĩa vụ thanh toán khi Công ty TNHH S1 đã giao hàng cho Công ty TNHH M. Trên thực tế, Công ty TNHH S1 chưa thực hiện nghĩa vụ giao hàng cho Công ty TNHH M theo thỏa thuận tại Hợp đồng may gia công. Công ty TNHH S1 đã vi phạm nghĩa vụ của bên nhận gia công theo quy định tại Điều 546 Bộ luật dân sự 2015 và Điều 182 Luật Thương mại. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 424, 545, 550 Bộ luật dân sự 2015, yêu cầu tuyên hủy các Hợp đồng gia công số Q331/GC2022/CB-PL, 0366/GC2022/CB-PL, số 0367/GC2022/CB-PL, số 0452/GC2022/CB-PL, số 0518/GC2022/CB-PL và số 9564/GC2022/CB-PL ký kết giữa Công ty TNHH M và Công ty TNHH S1 là có cơ sở chấp nhận.

[3.5] Căn cứ theo quy định tại Điều 427 Bộ luật dân sự 2015, có cơ sở buộc Công ty TNHH S1 trả lại nguyên liệu, phụ liệu do Công ty TNHH M đã giao cho Công ty S1 để thực hiện hợp đồng. Trường hợp không trả bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền, trị giá là 2.563.189.000 đồng (Hai tỷ năm trăm sáu mươi ba triệu một trăm tám mươi chín nghìn đồng); trường hợp một phần không trả bằng hiện vật thì phải trả bằng tiền trị giá tương ứng với phần đó. Tuy nhiên, không có căn cứ buộc Công ty TNHH S1 trả lại bán thành phẩm và thành phẩm đã gia công từ nguyên phụ liệu của Công ty TNHH M. Vì theo quy định của Điều 427 Bộ luật dân sự: “1. Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp; 2. Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp lý trong thực hiện hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản; Việc hoàn trả được thực hiện bằng hiện vật. Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả...”.

[3.6] Trong quá trình giải quyết vụ án Công ty S1 cũng thừa nhận đã giao nguyên phụ liệu của Công ty M cho các đơn vị khác gia công, việc này không được Công ty M đồng ý. Tuy nhiên, tại mục 5.6, Điều 5 của các Hợp đồng đã ký kết quy định việc này “phải được sự đồng ý bằng văn bản của bên A”. Công ty S1 không cung cấp được văn bản đồng ý của Charming B1 cho Phương L1 giao nguyên phụ liệu cho đơn vị khác gia công là đã vi phạm trách nhiệm tại Hợp đồng đã ký kết. Công ty S1 không giao hàng đúng hạn và tự ý đưa nguyên phụ liệu của Công ty M cho đơn vị khác gia công mà không có văn bản đồng ý của Công ty M là đã vi phạm Điều 2 và Điều 5 của hợp đồng. Như vậy, Công ty M đã giao cho Công ty TNHH S1 nguyên phụ liệu để gia công theo các hợp đồng may gia công đã ký thì chỉ được nhận lại nguyên phụ liệu đã giao, trường hợp không được hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền để hoàn trả.

Do đó, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty M yêu cầu Công ty S1 phải trả bằng giá trị tiền cho Công ty M là 2.563.189.000 đồng (hai tỷ, năm trăm sáu mươi ba triệu, một trăm tám mươi chín ngàn đồng).

[5] Xét trình bày của Công ty TNHH S1, bà Nguyễn Thị H1 trình bày tại bản tự khai ngày 11/7/2022 về các Hợp đồng gia công giữa Công ty L3, Công ty D và Công ty S1 ký kết với Công ty M và Công ty M đều do bà Nguyễn Thị H1 chịu trách nhiệm pháp lý cũng như thực hiện các nghĩa vụ liên quan được ghi trong hợp đồng. Còn phía Công ty G và Charming B1 hiện nay có 02 pháp nhân khác nhau đứng tên trên Giấy phép kinh doanh nhưng trong quá trình hợp tác thực hiện các hợp đồng may gia công thì tất cả các tài liệu trao đổi, xác nhận công nợ của Công ty L3, Công ty D và Công ty S1 đều do bộ phận nhân sự cùng một hệ thống quản lý của Công ty M và Công ty M thực hiện. Bà H1 cho rằng nguyên nhân dẫn đến việc Công ty S1 tạm ngưng sản xuất và không cho xuất 06 đơn hàng hợp đồng gia công nêu trên là do phía Công ty M và Công ty M chưa thanh toán tiền công nợ cho Công ty L3, Công ty D và Công ty S1. Bà H1 đề nghị TAND huyện Củ Chi thực hiện đối chiếu các giấy tờ liên quan đến công nợ giữa Công ty L3, Công ty D và Công ty S1 với Công ty M và Công ty M; đồng thời yêu cầu Công ty M và Công ty M phải thanh toán tiền công nợ cho Công ty L3, Công ty D và Công ty S1 với số tiền là 1.180.305.278 đồng. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật TTDS 2015, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Những tài liệu chứng cứ do bị đơn cung cấp không nằm trong phạm vi khởi kiện do nguyên đơn yêu cầu và phía bị đơn cũng không có yêu cầu phản tố nên không có căn cứ để xem xét khi giải quyết vụ án. Trong trường hợp này Công Ty S1 cũng như Công ty M có tranh chấp thì có quyền khởi kiện trong một vụ án khác.

[6] Xét bài phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

[7] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Căn cứ điểm đ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty M không phải chịu án phí được hoàn trả lại số tiền án phí đã nộp theo biên lai thu số 0044823 ngày 15/6/2022 là 41.631.890 đồng (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm chín mươi đồng).

Công ty S1 phải chịu số tiền án phí là 83.263.780 đồng (Tám mươi ba triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi nghìn đồng) và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đối với yêu cầu tuyên hủy các hợp đồng gia công giữa hai bên của nguyên đơn được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 58, Điều 68, Điều 146, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 227, Khoản 2 Điều 244, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Áp dụng Điều 280; Điều 401; Điều 542; Điều544; Điều 546; Điều 547; Điều 552; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ vào Điều 178, Điều 179, Điều 180, Điều 181, Điều 182, Điều 183, Điều 312, Điều 314 Luật Thương mại.

- Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

[1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH M.

[1.1] Chấp nhận yêu cầu tuyên hủy các Hợp đồng gia công đã ký kết giữa Công ty TNHH M và Công ty TNHH S1, gồm:

  • Hợp đồng số Q331/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 03/3/2022;
  • Hợp đồng số 0366/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 05/3/2022;
  • Hợp đồng số 0367/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 05/3/2022;
  • Hợp đồng số 0452/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 22/3/2022;
  • Hợp đồng số 0518/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 01/4/2022;
  • Hợp đồng số 9564/GC2022/CB-PL, ngày ký hợp đồng 12/4/2022.

[1.2] Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu buộc Công ty TNHH S1 phải trả bằng tiền đối với số hàng hóa gia công trị giá là 2.563.189.000 đồng (Hai tỷ năm trăm sáu mươi ba triệu một trăm tám mươi chín nghìn đồng.

Kể từ ngày Công ty TNHH M có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH S1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

- Công ty TNHH S1 phải chịu 83.263.780 đồng (Tám mươi ba triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn bảy trăm tám mươi) đồng và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đối với yêu cầu tuyên hủy các hợp đồng gia công giữa hai bên của nguyên đơn được chấp nhận.

- Công ty TNHH M được hoàn trả số tiền án phí đã nộp theo biên lai số 0044823 ngày 15/6/2022 là 41.631.890 đồng (Bốn mươi mốt triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn tám trăm chín mươi đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Hồng Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/KDTM-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.

  • Số bản án: 31/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty TNHH M - Công ty TNHH S
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger