TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 8 - 2024 V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn" | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Trung
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Hạnh, bà Bùi Thị Cẩm
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Xuân Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/ 2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 106/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Ú, sinh năm 1996
Địa chỉ: Thôn N, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt
Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh S, sinh năm 1989;
Địa chỉ: Thôn A, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 19/02/2024 và tại phiên toà nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Ú trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Thanh S tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2018 tại UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi (nay là xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi). Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm sống; anh S hay gây gỗ dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Vợ chồng sống ly thân từ cuối tháng 11/2023 Âm lịch đến nay, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Nay chị yêu cầu Toà giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Thanh S.
Về con chung: Chị Ú và anh S có 01 đứa con chung tên Nguyễn Đình T, sinh ngày 27/10/2019, hiện nay đang ở với mẹ; nếu vợ chồng ly hôn thì chị yêu cầu được nuôi dưỡng, giáo dục con, yêu cầu anh S cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là 165.000.000 đồng (trong đó có 80.000.000 đồng bà P mượn, 5.000.000 đồng bà D mượn và 80.000.000 đồng tiền bán rẫy keo anh Nguyễn Thanh S đang giữ); chị Nguyễn Thị Kim Ú yêu cầu được chia 82.500.000 đồng. Chị đã khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị P trả 80.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Kiều D trả 5.000.000 đồng cho vợ chồng chị; trong quá trình giải quyết chị Ú đã rút yêu cầu bà Trần Thị P, bà Nguyễn Thị Kiều D trả nợ cho vợ chồng chị. Tại phiên toà chị Ú rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng.
Về nợ chung: không có
Trong đơn khởi kiện phản tố ngày 25/3/2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn anh Nguyễn Thanh S trình bày:
Anh thừa nhận trình bày của chị Ú về quan hệ hôn nhân cũng như mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống; vào cuối năm 2023 vợ chồng cãi vã, sau đó vợ bỏ về nhà mẹ ruột ở mãi đến nay, anh có đến khuyên giải nhiều lần nhưng chị Ú cương quyết không trở về sống đoàn tụ; từ đó vợ chồng không còn tình cảm, không quan tâm gì nhau. Do đó, chị Ú yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý.
Về con chung: Vợ chồng có 01 người con chung tên Nguyễn Đình T, sinh ngày 27/10/2019 đang ở với mẹ. Khi ly hôn thì anh yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; không yêu cầu chị Ú cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Vợ chồng hiện có 280.000.000 đồng (Hai trăm tám mươi triệu đồng) chị Ú gửi tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP V – Chi nhánh Q - Phòng G và 10 chỉ vàng 24K được cho trong ngày cưới chị Ú đang giữ. Nếu vợ chồng ly hôn thì anh yêu cầu phải chia đôi số tiền, vàng cho vợ chồng mỗi người một nữa. Tại phiên toà anh S rút toàn bộ yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng.
Về nợ chung: Không có
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Kim Ú được ly hôn anh Nguyễn Thanh S.
Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Nguyễn Đình T, sinh ngày 27/10/2019 cho chị Nguyễn Thị Kim Ú trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; buộc anh S cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Tại phiên toà nguyên đơn và bị đơn đều rút yêu cầu chia tài sản chung nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung.
Về nợ chung: Chị Ú và anh S đều khai không có nợ chung nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Ú có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Thanh S có nơi cư trú tại xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn đều có mặt tại phiên toà. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo luật định.
[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim Ú và anh Nguyễn Thanh S tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2018 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ (nay là xã P, thị xã Đ), tỉnh Quảng Ngãi; vì vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Ú và anh S là hoàn toàn hợp pháp. Trong thời gian chung sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường cãi vã, hai người không còn sống chung từ cuối năm 2023 đến nay. Chị Ú và anh S không còn tình cảm, không còn quan tâm gì với nhau. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng chị Ú và anh S không thể trở về sống đoàn tụ. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Ú và anh S đã ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Kim Ú được ly hôn anh Nguyễn Thanh S.
[4] Về con chung: Vợ chồng chị Nguyễn Thị Kim Ú và anh Nguyễn Thanh S có 01 con chung tên là Nguyễn Đình T, sinh ngày 27/10/2019 đang ở với mẹ. Nếu vợ chồng ly hôn thì anh S yêu cầu được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; không yêu cầu chị Ú cấp dưỡng cho con; chị Ú yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu anh S cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000 đồng. Xét yêu cầu của chị Ú, anh S về nuôi con chung khi ly hôn, thấy rằng: Cháu T đang ở với mẹ; hiện chị Ú có nơi ở và việc làm ổn định. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con, Hội đồng xét xử nhận thấy nên giao cháu T cho chị Ú trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; buộc anh S phải cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 29/8/2024.
[5] Về tài sản chung: Tại phiên toà nguyên đơn và bị đơn đều rút yêu cầu chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung.
Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự về việc chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
[6] Về nợ chung: chị Ú, anh S khai không có nên không xét.
[7] Về án phí: Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Kim Ú phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn. Anh S phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí yêu cầu chia tài sản chung cho chị Ú và anh S.
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình;
- - Căn cứ các Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q1,
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kim Ú được ly hôn anh Nguyễn Thanh S.
2. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đình T, sinh ngày 27/10/2019 cho chị Nguyễn Thị Kim Ú trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Thanh S phải cấp dưỡng cho con mỗi tháng 1.500.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 29/8/2024.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đối với con chung mà không ai được cản trở. Sau khi ly hôn đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện số tiền có nghĩa vụ phải thi hành thì bên phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo qui định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.
3. Về tài sản chung: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung.
Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự về việc chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
4. Về nợ chung: Anh S, chị Ú khai không có nợ chung nên không xem xét.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Kim Ú phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm ly hôn; được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị Ú đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0001786 ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Anh Nguyễn Thanh S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng; được khấu trừ vào 4.250.000 đồng (Bốn triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí anh S đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0001806 ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Hoàn trả cho anh Nguyễn Thanh S 3.950.000 đồng (Ba triệu chín trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí.
Hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Kim Ú 2.062.000 đồng (Hai triệu không trăm sáu mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị Ú đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0001836 ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊNTÒA Phạm Minh Trung |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Úc khởi kiện ly hôn Sang
