|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08/8/2024 V/v: Tranh chấp Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Thanh Hải
2. Bà Hà Thị Dung
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Dương; Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên; Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nông Bảo L, sinh năm 1989; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố S, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; địa chỉ hiện nay: Quantre R F W, H, Cộng hòa Liên bang Đ; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Chị Tạ Hồng T, sinh năm 1987; Nơi thường trú: Tổ dân phố S, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn anh Nông Bảo L trình bày:
Anh Nông Bảo L và chị Tạ Hồng T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện P (nay là phường B, thành phố P), tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam ngày 13/02/2012. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, từ khi chị T có thai, vợ chồng thường xuyên xảy ra tranh cãi do cách nhìn nhận, quan điểm khác nhau trong cuộc sống. Dù được bố mẹ hai bên khuyên can, hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung. Năm 2023, anh L sang Cộng hòa Liên bang Đ làm ăn, vợ chồng sống xa cách từ đó đến nay. Anh L xác định tình cảm không còn, yêu cầu ly hôn với chị T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nông Bảo A, sinh ngày 07/8/2020, anh L đề nghị giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, đồng ý cấp dưỡng nuôi con hàng tháng với chị T theo quy định.
Về tài sản chung của vợ chồng: Anh L xác định vợ chồng có 01 mảnh đất do mẹ đẻ của chị T cho tiền mua, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung của vợ chồng: Anh L xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và tại phiên tòa, bị đơn chị Tạ Hồng T trình bày:
Chị T và anh L kết hôn năm 2012 tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện P (nay là phường B, thành phố P), tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng có những bất đồng quan điểm do thời gian dài không có con. Đến năm 2020, anh chị mới sinh con đầu tiên, nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hàn gắn những mâu thuẫn. Năm 2023 anh L sang Cộng hòa Liên bang Đ làm việc, vợ chồng sống xa cách nhau, tình cảm nhạt dần. Mặc dù hai vợ chồng đã ngồi lại nói chuyện để hàn gắn nhưng không thành. Anh L xin ly hôn, chị T nhất trí.
Về con chung: Có 01 con chung là Nông Bảo A, sinh ngày 07/8/2020, hiện nay đang ở với chị T, chị đề nghị giao con cho chị tiếp tục nuôi dưỡng do hiện nay anh L không ở Việt Nam. Chị T yêu cầu anh L cấp dưỡng 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng.
Về tài sản chung của vợ chồng: Chị T xác định có 01 mảnh đất được mẹ đẻ của chị cho tiền mua sau khi hai vợ chồng kết hôn. Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung của vợ chồng: Chị T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật; Những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nông Bảo L, cho anh L được ly hôn chị Tạ Hồng T. Về con chung: Giao con chung Nông Bảo A, sinh ngày 07/8/2020 cho chị Tạ Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng, buộc anh L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000/tháng kể từ tháng 8/2024 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác. Về tài sản chung, nợ chung, hai bên đều không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
Anh Nông Bảo L là nguyên đơn có nơi thường trú trước khi xuất cảnh tại tổ dân phố S, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên, chỗ ở hiện tại: Quantre R 65185 Wiesbaden, H, Cộng hòa Liên bang Đ. Đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ của anh L đều có chứng thực của Tổng lãnh sự quán C tại Cộng hòa Liên bang Đ. Do đó, có đủ cơ sở xác định, nội dung các văn bản của anh Nông Bảo L nộp gửi cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là đúng ý chí, nguyện vọng của anh L.
Chị Tạ Hồng T, sinh năm 1987, hiện cư trú tại tổ dân phố S, phường B, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
Anh L đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt, chị T có mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[2] Về giải quyết nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Nông Bảo L và chị Tạ Hồng T trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện P (nay là phường B, thành phố P), tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, anh L và chị T đều xác định do cuộc sống vợ chồng có bất đồng về quan điểm, vợ chồng đã sống xa cách nhau, không tìm được tiếng nói chung và không còn tình cảm vợ chồng. Anh L xin ly hôn, chị T nhất trí. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Nông Bảo L đối với chị Tạ Hồng T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai anh chị đều nhất trí ly hôn, nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh L, cho anh L được ly hôn với chị Tạ Hồng T là phù hợp thực tế và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.
[2.2] Về con chung: Anh L và chị T đều xác định có 01 con chung tên Nông Bảo A, sinh ngày 07/8/2020, hiện nay cháu A đang ở với chị T. Hội đồng xét xử thấy giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo mọi mặt của con chung khi cha mẹ ly hôn và quy định tại Điều 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình. Chị T yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng từ tháng 8/2024 đến khi con đủ 18 tuổi, anh L đồng ý cấp dưỡng nuôi con, cần buộc anh L có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 82, Điều 107, Điều 110, Điều 116, Điều 117 Luật hôn nhân gia đình.
[2.3] Về tài sản chung: Anh L và chị T đều xác định có 01 mảnh đất, nguồn gốc do mẹ đẻ chị T cho tiền để mua, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về nợ chung: Anh L và chị T đều xác định không có, Toà án không xem xét.
[3] Án phí sơ thẩm: Anh Nông Bảo L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con nộp ngân sách Nhà nước.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung giải quyết vụ án tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[5] Thông báo quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 37, 38, 39, Điều 147; khoản 1 Điều 228, khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 127 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn ly hôn của anh Nông Bảo L đối với chị Tạ Hồng T. Anh Nông Bảo L được ly hôn với chị Tạ Hồng T.
-
Về con chung: Giao con chung Nông Bảo A, sinh ngày 07/8/2020 cho chị Tạ Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh L có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nông Bảo L có nghĩa vụ cấp dưỡng 5.000.000 đồng/01 tháng nuôi con Nông Bảo A, sinh ngày 07/8/2020. Thời hạn cấp dưỡng nuôi con từ tháng 8/2024 đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
- Tài sản chung vợ chồng: Các đương sự không yêu cầu, Toà án không giải quyết.
- Án phí sơ thẩm: Anh Nông Bảo L phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào 300.000đ đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000101 ngày 03/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.
- Quyền kháng cáo: Chị Tạ Hồng T được quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ tuyên án; anh Nông Bảo L được quyền kháng cáo trong hạn 01 (Một) tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Hoàng Quý Sửu |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: L T
