|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 12/6/2024
V/v tranh chấp Ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu An
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hải
2. Ông Võ Văn Tường
- Thư ký phiên tòa:
ông Nguyễn Minh Khang - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền tham gia phiên tòa:
bà Nguyễn Thanh Tuyền - Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 về việc tranh chấp Ly hôn, nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 59/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: bà Trần Thị Lan C, sinh năm: 1986
Nơi cư trú: số G ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Vắng mặt
Bị đơn: ông Nguyễn Văn Thảnh E, sinh năm: 1982
Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn – bà Trần Thị Lan C trình bày: bà C và ông Nguyễn Văn T Em tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2009, ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T vào ngày 29/5/2009. Thời gian đầu bà C và ông Thảnh E chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, ông Thảnh E không quan tâm, chăm sóc gia đình, bà C và ông Thảnh E không còn chung sống cách nay khoảng 2 năm nên bà C yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Thảnh E. Về con chung thì giữa bà C và ông Thảnh E có 02 con chung là Nguyễn Trần Anh T1 (nữ) sinh ngày 31/10/2014 và Nguyễn Trần Anh T2 (nữ) sinh ngày 13/6/2011, bà C yêu cầu trực tiếp nuôi hai con chung và yêu cầu ông Thảnh E cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu là 1.500.000đ/tháng cho đến khi các con chung tròn 18 tuổi. Trong thời gian chung sống thì bà C và ông Thảnh E không có nợ chung và cũng không có tài sản chung.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Tòa án thụ lý vụ kiện là đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho nguyên đơn Trần Thị Lan C được ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn Thảnh E, giao con hai chung chưa thành niên cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà C thì đề nghị Hội đồng xét xử buộc ông Thảnh E cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật cho mỗi cháu là 900.000đ/tháng cho đến khi các con chung tròn 18 tuổi, về tài sản chung và nợ chung tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Bà Trần Thị Lan C và ông Nguyễn Văn T Em xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 112/2009 ngày 29/5/2009, do đó, hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Nay một bên yêu cầu được ly hôn, quan hệ pháp luật trên do Luật Hôn nhân và gia đình điều chỉnh và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân, vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền.
[2] Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Nguyễn Văn T Em không đến tham dự các phiên hòa giải vào ngày 21/3/2024 và ngày 19/4/2024 nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã mở phiên tòa xét xử công khai vào ngày 14/5/2024 nhưng ông Thảnh E vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, phía bị đơn Nguyễn Văn T Em vẫn vắng mặt, đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Phong Điền có nhận được đơn xin giải quyết vắng mặt của nguyên đơn Trần Thị Lan C. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất xét xử vắng mặt nguyên đơn Trần Thị Lan C và bị đơn Nguyễn Văn Thảnh E.
[3] Theo đơn khởi kiện bà Trần Thị Lan C trình bày, nguyên nhân giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do bà C và ông Thảnh E bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vả và ông Thảnh E không quan tâm, chăm lo cho gia đình, cách nay hai năm thì ông Thảnh E không về nhà với bà C nửa, cũng từ đó ông bà không còn chung sống với nhau, nay giữa hai bên không thể hàn gắn được nên bà C yêu cầu ly hôn với ông Thảnh E. Mặc dù không ghi nhận được ý kiến của ông Thảnh E nhưng việc ông Thảnh E không đến tham dự các phiên hòa giải tại Tòa án cũng cho thấy ông Thảnh E không còn tha thiết duy trì quan hệ hôn nhân với bà C. Hội đồng xét xử thấy rằng, mâu thuẫn giữa bà C và ông Thảnh E đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt, vợ chồng không còn quan tâm, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của nguyên đơn Trần Thị Lan C là có cơ sở chấp nhận; vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Lan C.
[4.1] Về con chung: bà C và ông Thảnh E có 02 con chung là Nguyễn Trần Anh T1 (nữ) sinh ngày 31/10/2014 và Nguyễn Trần Anh T2 (nữ) sinh ngày 13/6/2011. Bà C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung do hiện nay hai cháu đang sống bên bà C, mặc dù không ghi nhận được ý kiến của ông Thảnh E về vấn đề nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con chưa thành niên cho cha hoặc mẹ nuôi dưỡng phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, hiện hai con chung của ông Thảnh E và bà C còn nhỏ và đang sinh sống ổn định bên mẹ là bà C nên Hội đồng xét xử thống nhất giao hai cháu A T1 và Anh T2 cho bà C trực tiếp nuôi dưỡng, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu là được sống bên mẹ.
[4.2] Bà C yêu cầu ông Thảnh E cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu là 1.500.000đ/tháng cho đến khi các chung tròn 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù không ghi nhận được ý kiến của bị đơn Nguyễn Văn T Em về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên sau khi ly hôn nhưng người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, do đó bà C yêu cầu buộc ông Thảnh E cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định của pháp luật, tuy nhiên, bà C yêu cầu ông Thảnh E cấp dưỡng nuôi con chung đối với mỗi cháu là 1.500.000đ/tháng là có cao so với quy định và bà C cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh thu nhập của ông Thảnh E có thể đảm bảo thực hiện theo mức cấp dưỡng mà bà C yêu cầu nên Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là chỉ buộc ông Thảnh E cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật là 900.000đ/tháng cho mỗi con chung của ông Thảnh E và bà C.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn Trần Thị Lan C trình bày không có nợ chung và không có tài sản chung nhưng không ghi nhận được ý kiến của bị đơn Nguyễn Văn Thảnh E, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét mà tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của đương sự.
[6] Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Thị Lan C.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Lan C được ly hôn với ông Nguyễn Văn Thảnh E.
- Về con chung: giao các cháu Nguyễn Trần Anh T1 (nữ) sinh ngày 31/10/2014 và Nguyễn Trần Anh T2 (nữ) sinh ngày 13/6/2011 cho bà Trần Thị Lan C trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn T Em có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi cháu là 900.000đ/tháng cho đến khi các con chung tròn 18 tuổi.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Nguyễn Văn Thảnh E, không ai được quyền ngăn cản.
- Về tài sản chung, nợ chung: tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu của đương sự.
- Án phí sơ thẩm: bà Trần Thị Lan C phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, chuyển tiền tạm ứng án phí tại phiếu thu số 0006185 ngày 27/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phong Điền thành án phí. Ông Nguyễn Văn Thảnh E phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu An |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
