|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/5/2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Vân Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Chu Hạ Uyên.
Ông Tạ Xuân Sơn.
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Phi Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thạch T - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 589/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 38/2024/QÐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T1, sinh năm 1980.
- Bị đơn: Anh Lưu H, sinh năm 1978.
Cùng địa chỉ: Ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
(Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, nguyên đơn chị Phạm Thị T1 trình bày:
Nguyên đơn và anh Lưu H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn vào năm 2009 tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã L (nay thành phố L), tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau tại phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; đến năm 2017, vợ chồng chuyển về sống tại xã H, thị xã L (nay là thành phố L), tỉnh Đồng Nai đến nay. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc. Đến cuối năm 2018, vợ chồng bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, luôn bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung. Nguyên nhân do anh H không chăm lo cho gia đình, thường hay cãi vã về chuyện tiền bạc. Chị T1 còn phát hiện anh H có mối quan hệ với người phụ nữ khác. Sự việc trầm trọng đến mức vợ chồng không sống chung với nhau từ giữa năm 2022. Nay, nguyên đơn nhận thấy không còn tình cảm với anh Lưu Hoàng n yêu cầu được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Lưu Phạm Tuấn H1, sinh ngày 15/4/2011. Khi ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được nuôi cháu H1, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: không có.
Quá trình giải quyết, bị đơn anh Lưu H không hợp tác, không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai.
* Toàn bộ tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và Tòa án thu thập đã được công khai theo đúng quy định pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát đã phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự và về ý kiến giải quyết vụ án:
- Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T1 vì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Về con chung: đề nghị giao cháu Lưu Phạm Tuấn H1, sinh ngày 15/4/2021 cho chị T1 nuôi. Tạm thời chị T1 không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: chị T1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn chị Phạm Thị T1 khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn anh Lưu H. Do anh H có địa chỉ cư trú hiện nay tại ấp H, xã H, thành phố L, tỉnh Đồng Nai nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “tranh chấp ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn được tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
-
Về nội dung vụ án:
-
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và anh Lưu H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã L (nay thành phố L), tỉnh Đồng Nai, đã cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2009, được công nhận là hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn nhận thấy: Theo chị T1 nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không có tiếng nói chung, thường hay cãi vã, chủ yếu do anh H không chăm lo cho gia đình, không chia sẻ với chị những khó khăn trong cuộc sống. Chị T1 cho rằng anh H có mối quan hệ với người phụ nữ khác nhưng không có chứng cứ chứng minh. Hiện tại anh chị đã không còn chung sống với nhau.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tạo điều kiện cho hai vợ chồng hàn gắn tình cảm, tuy nhiên bị đơn anh Lưu H vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc cũng như tại phiên hòa giải nên không thể tiến hành hòa giải được.
Tòa án tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng tại địa phương thể hiện quá trình chung anh H hay nhậu nhẹt, say xỉn về nhà là chửi bới, đánh đập vợ con. Vào khoảng năm 2021 anh H thường đi làm xa, mỗi khi về nhà lại đánh đập vợ con, hiện nay anh Hoàng t xuyên vắng nhà.
Từ những nội dung trên xác định được quan hệ hôn nhân của chị T1 và anh H đã mâu thuẫn, không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị T1 yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: vợ chồng có 01 con chung là cháu Lưu Phạm Tuấn H1, sinh ngày 15/4/2011. Khi ly hôn, chị T1 yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1, đồng thời không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu này nhận thấy: việc giao cháu H1 cho chị T1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của con, mong muốn được chung sống cùng mẹ; bản thân chị T1 có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, có đủ các điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng con. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T1, giao cháu Lưu Phạm Tuấn H1, sinh ngày 15/4/2011 chị Phạm Thị T1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Do chị T1 không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung nên không đặt ra xem xét.
- Về tài sản chung: chị T1 khai vợ chồng không có tài sản chung, do anh H không có lời khai nên không xem xét.
- Nợ chung: chị T1 khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
-
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và anh Lưu H tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã L (nay thành phố L), tỉnh Đồng Nai, đã cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2009, được công nhận là hôn nhân hợp pháp, nên được pháp luật bảo vệ.
- Về án phí: Chị T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
-
Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – chị Phạm Thị T1.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị T1 được ly hôn anh Lưu H.
- - Về con chung: Giao cháu Lưu Phạm Tuấn H1, sinh ngày 15/4/2011 cho chị Phạm Thị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời chị T1 không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung.
- Sau khi ly hôn, anh H được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản. Khi cần thiết, chị T1, anh H được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.
-
Về án phí: Chị Phạm Thị T1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ từ tiền tạm ứng án phí sang nộp án phí theo biên lai thu số 0008366 ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Chị T1 đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi, bổ sung).
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Nguyên đơn và bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
|
THÀNH VIÊN HĐXX |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Thị Vân Khánh |
Nơi nhận:
- - Tòa án tỉnh Đồng Nai;
- - VKSND TP. Long Khánh;
- - Chi cục THADS TP. Long Khánh;
- - Uỷ ban nhân dân xã Hàng Gòn, thành phố Long Khánh;
- - Các đương sự (để thi hành);
- - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị phạm thị thêm
