TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:31/2024/HSST
Ngày 07 tháng 5 năm 2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ - TỈNH GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thanh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Khả Hòa, cán bộ nghỉ hưu; Bà Lê Thị Cần, giáo viên nghỉ hưu
-Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phùng Lê Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Diệp - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân huyện Đức Cơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/HSST ngày 01 tháng 04 năm 2024, quyết định đưa vụ án ra xét xử số:23/2024/ QĐXXST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
Ksor Cân;
Tên gọi khác: Cân; Sinh ngày 21/8/1998; tại thành phố P, tỉnh Gia Lai
Nơi thường trú: Làng P, xã B, thành phố P, tỉnh Gia Lai
Nơi ở hiện tại: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Làm nông. - Trình độ học vấn: 3/12 . - Dân tộc: Jrai
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin Lành ; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Ksor V ( sinh năm 1974) và bà T ( đã chết) Cư trú: Làng Ngo Le, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai
Bị cáo có vợ chị Rơ Châm H, sinh năm 2002 và 01 con sinh năm 2023. Hiện cư trú tại làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/6/2018 bị TAND TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 19 tháng 12 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngay tại phiên tòa.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/01/2024 đến nay. ( có mặt).
Siu A Bên;
tên gọi khác: Không; Sinh ngày 08/6/2006 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Nơi cư trú: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Không. - Trình độ học vấn: 7/12 . - Dân tộc: Jrai
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Rơ Lan B, Sinh năm 1979 và bà Siu H1' Đ, sinh năm 1980.
Cư trú tại: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/02/2024 đến nay tại xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( có mặt).
Rah Lan K;
tên gọi khác: Không; Sinh ngày 09/7/2007 tại huyện Đ, tỉnh Gia Lai
Nơi cư trú: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Nghề nghiệp: Không. - Trình độ học vấn: 9/12 . - Dân tộc: Jrai
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không ; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Rơ Châm H2, sinh năm 1984 và bà Rah Lan B1, sinh năm 1985.
Cư trú tại: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 22/02/2024 đến nay xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( có mặt).
-Bị hại: Anh Phạm Ngọc T1, sinh năm 2001 địa chỉ: Làng K, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (có mặt).
-Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Siu A Bên và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Rơ Lan B, sinh năm 1979 và bà Siu H1' Đ, sinh năm 1980; Trú tại: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( có mặt).
-Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Rah Lan K: Ông Rơ Châm H2, sinh năm 1984 và bà Rah Lan B1, sinh năm 1985; Trú tại: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( có mặt).
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+Bà Bùi Thị T2, sinh năm 1982; Trú tại: Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( xin vắng mặt).
+Bà Nguyễn Thị Hương H3, sinh năm 1981; Trú tại: Thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( xin vắng mặt).
+Ông Rơ Châm L, sinh năm 1977 ; Trú tại: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( vắng mặt).
+Siu T3, sinh năm 2009; Trú tại: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( có mặt).
+Rah Lan K1, sinh năm 2009; Trú tại: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( vắng mặt).
-Người đại diện hợp pháp cho Siu T3: Ông Rah Lan L1 và bà Siu H4; Trú tại: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( có mặt).
-Người đại diện hợp pháp cho Rah Lan K1: Ông Rơ Mah T4 và bà Rah L2phyang; Trú tại: Làng N, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. (có mặt)
-Người bào chữa cho bị cáo Siu ABên, Rah Lan K: Luật sư Trương Thị P – Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. ( có mặt).
-Người phiên dịch: Bà Nay B2 H' Ry, địa chỉ: Làng H' Rang, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. ( có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nội dung bản cáo trạng, vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 23 giờ ngày 28/12/2023, Ksor C đi chơi ngang qua kho cà phê của gia đình anh Phạm Ngọc T1 trú tại làng K, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai không thấy có người trông coi nên đã nảy sinh ý định trộm cắp cà phê để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Cân đi bộ về nhà gia đình vợ ở làng N, xã I, huyện Đ lấy 04 chiếc bao tải (loại bao cám, màu trắng, nhãn hiệu con cò) và điều khiển xe BKS: 81T2 -9039 chạy đến phía sau kho cà phê của gia đình anh Phạm Ngọc T1 và để xe mô tô ở khu vực lô cao su. Ksor Cân đi đến gỡ lưới B40 lén lút đột nhập vào kho thấy có một số bao cà phê nhân đã đóng bao sẵn. Do trọng lượng bao cà phê nhân nặng nên C lấy chiếc bao trong kho chia đôi bao cà phê nhân để thuận tiện cho việc vác ra xe. Sau đó, C vác hai nửa bao cà phê ra xe mô tô và chở về cất giấu tại khu vực vườn cà phê của anh Rơ Lan L3 thuộc làng N, xã I, huyện Đ. Xong, C tiếp tục điều khiển xe mô tô quay lại kho cà phê của anh T1 lấy trộm một bao cà phê nhân và chia ra làm hai bao chở về nơi cất giấu ban đầu. Sau đó, Ksor C đi về gia đình nhà vợ ngủ. Đến khoảng 18 giờ ngày 29/12/2023, Ksor C đến quán T5 của gia đình chị Bùi Thị T2, trú tại thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai để hỏi bán cà phê, chị T2 đồng ý mua với giá là 55.000 đồng/1 kg cà phê nhân. Trên đường về, C gặp Siu T3 (SN 2009), Rah Lan K1 (SN 2009), cùng trú tại làng N, xã I, huyện Đ cả ba người cùng nói chuyện thì C hỏi T3, K1 có đi chở cà phê do người khác trộm được nhờ C đi bán và hứa sẽ cho K1, T3 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng), nghe xong cả hai đồng ý. Sau đó, C đến tạp hóa Thảo L4 mua 02 bao tải để đựng cà phê thì gặp Rah Lan K và Siu A1, C tiếp tục rủ K, ABên chở cà phê trộm đi bán và hứa hẹn trả số tiền như trên thì cả hai đồng ý và tất cả tập trung tại nhà C. Cân đưa xe mô tô BKS: 81T2 - 9039 cho T3 điều khiển chở K1 còn C điều khiển xe mô tô BKS: 81U1-088.92 của gia đình vợ và ABên điều khiển xe mô tô BKS: 81U1 - 365.17 của gia đình chở K đi theo Cân đến địa điểm cất giấu cà phê. Sau đó, cả bọn chia nhau chở số cà phê mà Ksor C trộm cắp mà có đến quán T5 để bán. Tổng số cà phê nhân Cân bán cho chị Bùi Thị T2 là 140 kg, với giá là 7.700.000 đồng (Bảy triệu bảy trăm ngàn đồng). Cân nhận tiền xong chia cho T3, K1 mỗi người 150.000 đồng; ABên và K mỗi người 200.000 đồng, số tiền còn lại Cân tiêu xài cá nhân hết. Sau khi mua số cà phê do Ksor C bán, thì chị T2 bán lại cho chị Nguyễn Thị Hương H3, trú tại: Thôn T, xã I, huyện Đ với số tiền là 9.540.000 đồng. Đến ngày 31/12/2023, Ksor C đã đến Cơ quan Công an tự thú.
Tại kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐ ngày 03/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ.
Kết luận về giá của tài sản: (Vào thời điểm ngày 28/12/2023)
- 140 kg (một trăm bốn mươi kilogam) cà phê nhân. Giá trị định giá là 9.632.000 đồng.
- Giá 01 kg (một kilogam) cà phê nhân là 68.800 đồng.
Tổng giá trị tài sản yêu cầu định giá là: 9.632.000 đồng. (Chín triệu sáu trăm ba mươi hai ngàn đồng).
Ngày 09/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai đã khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với bị cáo Ksor C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự;
Ngày 22/02/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Gia Lai đã khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với bị cáo Siu Al và Rah Lan K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự;
Tại Bản cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 29/03/ 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Ksor C về tội " Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 và truy tố truy tố các bị cáo Siu Al và Rah Lan K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
*Kiểm sát viên luận tội, nêu quan điểm xử lý vụ án:
Giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Ksor C về tội “ Trộm cắp tài sản” và các bị cáo cáo Siu Abên và Rah Lan K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của các bị cáo như:
-Đối với bị cáo Ksor C phạm tội có tình tiết tăng nặng xúi giục (R, S) là người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. về nhân thân, ngày 20/6/2018, bị cáo bị TAND TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 19 tháng 12 ngày tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngay tại phiên tòa.
+Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Ksor C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục hậu quả; sau khi phạm tội đã “tự thú”, gia đình thuộc hộ nghèo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với các bị cáo Siu Al và Rah Lan K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khắc phục hậu quả, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; 50; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Ksor C từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 323 ; Điều 38; 50; 65 điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 90, 91, 98, 101 của Bộ luật Hình sự 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Siu ABên và Rơ Lan K2 từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
+Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, được bồi thường, bị hại và những người có quyền lợi liên quan trong vụ án không yêu cầu gì thêm, nên không đề nghị xem xét.
+Về xử lý vật chứng: Đề nghị chấp nhận việc cơ quan điều tra xử lý trao trả tài sản chỏ chủ sở hữu gồm: Trả cho bị hại anh Phạm Ngọc T1 140 kg cà phê nhân; Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Rơ Châm L 02 chiếc xe mô tô (BKS: 81T2 – 9039 và BKS: 81U1 - 088.92) và trả cho bà Siu H1’Đẽl 01 chiếc xe mô tô BKS: 81U1 - 365.17.
+Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
*Luật sư bào chữa cho bị cáo Siu A Bên và Rah Lan K trình bày:
Nhất trí về tội danh, điều luật mà ý kiến luận tội của kiểm sát viên đã viện dẫn đối với các bị cáo cáo Siu Abên và Rah Lan K. Đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo thành khẩn khai báo vàn ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục hậu quả; phạm tội khi chưa đủ tuổi thành niên là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ và cho các bị cáo được hưởng mức án dưới mức thấp nhất và mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị và cho các bị cáo được hưởng án treo.
*Đại diện hợp pháp của bị cáo trình bày: Xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
*Các bị cáo không có ý kiến gì đối với kết luận định giá tài sản, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào khoảng 23 giờ ngày 28/12/2023, Ksor C phát hiện kho cà phê của anh Phạm Ngọc T1 tại làng K, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai không có người trông coi nên đã gỡ lưới B40 lén lút vào kho lấy trộm 140 kg cà phê nhân về cất giấu tại khu vực vườn cà phê của anh Rơ Lan L3 thuộc làng N, xã I, huyện Đ. Đến ngày 29/12/2023, Ksor C gặp và nói với Siu ABên, Rah Lan K, Rah Lan K1, S có cà phê do người ở làng N trộm cắp được nhờ Cđi bán và Crủ Siu ABên, Rah Lan K, Rah Lan K1, Siu T3 chở số cà phê đã trộm cắp đến quán T5 của gia đình chị Bùi Thị T2 thuộc thôn T, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai bán thì tất cả đồng ý và chở đến bán được 7.700.000 đồng, C chia cho Siu ABên, Rah Lan Kơn mỗi người 200.000đ, chia cho Rah Lan K1, Siu Tiên mỗi người 150.000đ, số tiền còn lại Cân tiêu xài.
Tổng giá trị tài sản trộm cắp được định giá là 9.632.000 đồng. (Chín triệu sáu trăm ba mươi hai ngàn đồng).
Trong vụ án này: Đối với bị cáo Ksor C là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cũng như chở tài sản trộm cắp đi tiêu thụ. Đối với các bị cáo Siu ABên, Rah L2 Kơn biết rõ tài sản do người khác trộm cắp mà có nhưng đã tích cực cùng bị cáo Ksor C chở tài sản đi tiêu thụ.
Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ truy tố bị cáo Ksor C về tội " Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 và truy tố các bị cáo Siu ABên, Rah Lan K về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Ksor C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác và các bị cáo Siu ABên, Rah Lan K đã xâm phạm về trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Nên cần thiết phải xử lý nghiêm mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân, tình tíêt tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo:
-Về nhân thân: Đối với bị cáo Ksor C, ngày 20/6/2018 bị TAND TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai tuyên phạt 19 tháng 12 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngay tại phiên tòa.
-Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Ksor C phạm tội có tình tiết tăng nặng xúi giục (R, S) là người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Siu ABên, Rah Lan K phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ:Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Các bị cáo Siu ABên, Rah Lan K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả; bị cáo Ksor C sau khi phạm tội đã đến cơ quan Công an tự thú và gia đình thuộc hộ nghèo; Các bị cáo Siu ABên, R Kơn phạm tội khi chưa đủ tuổi thành niên, Nên bị cáo Ksor C có các tình giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Siu ABên, Rah Lan K có các tình giảm nhẹ quy định tại điểm b,i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Tuy nhiên cần xử phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Ksor C là cần thiết. Đối với các bị cáo Siu ABên, Rah Lan K chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo Siu ABên, Rah Lan Kơn ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần xử phạt tù cho hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo, răn đe phòng ngừa chung, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có điều kiện kinh tế, là người chưa thành niên phạm tội, nên không cần thiết xử phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, được bồi thường bị hại và những người có quyền lợi liên quan trong vụ án không yêu cầu gì thêm, nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Xét việc cơ quan điều tra xử lý trao trả tài sản cho chủ sở hữu gồm: Trả cho bị hại anh Phạm Ngọc T1 140 kg cà phê nhân; Trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Rơ Châm L 02 chiếc xe mô tô (BKS: 81T2 – 9039 và BKS: 81U1 - 088.92) và trả cho bà Siu H1’Đẽl 01 chiếc xe một BKS: 81U1 - 365.17 là có căn cứ. Nên chấp nhận, không đề cập xử lý.
[7] Đối với hành vi và các đối tượng liên quan trong vụ án:
- Đối với Rah Lan K1 và S trong vụ án này là người biết rõ số cà phê là do trộm cắp mà có nhưng vẫn tham gia tích cực chở đi bán. Nhưng theo kết luận giám định pháp y độ tuổi số: 118,119/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP.Đà Nẵng. Kết luận: Rah Lan K1 tại thời điểm giám định (tháng 01/2024) là: 14 tuổi 03 tháng ; S tại thời điểm giám định (tháng 01/2024) là: 14 tuổi 03 tháng. Nên Rah Lan K1 và Siu T3 chưa đủ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã giao các đối tượng cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý giáo dục là có căn cứ.
- Đối với chị Bùi Thị T2 và chị Nguyễn Thị Hương H3 hoàn toàn không biết số cà phê nhân mình mua là do Ksor Cân trộm cắp mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xử lý T2 và H3 là có căn cứ.
- Đối với ông Rơ Châm L (bố vợ Ksor C) và ông Rơ Lan B, bà Siu H1’Đẽl (bố mẹ đẻ Siu ABên) trong vụ án này hoàn không biết C và A1 sử dụng xe máy của mình làm phương tiện phạm tội. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý ông L, ông B và bà H'Đếl là có căn cứ.
Nên không đề cập xử lý.
[8] Xét về tính hợp pháp của hành vi và quyết định tố tụng trong quá trình Điều tra và Truy tố: Nhận thấy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Cơ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[9] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Cần tuyên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Ksor C phạm tội “ Trộm cắp tài sản ” và các bị cáo Siu ABên, Rah Lan K phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
-Về hình phạt chính:
+Căn cứ khoản 1 Điều 173 ; Điều 38; 50; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Ksor C 18(mười tám) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án được khấu trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 31/12/2023 đến ngày 09/01/2024.
+Căn cứ khoản 1 Điều 323 ; Điều 50; 58; 65; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 90, 91, 98, 101 của Bộ luật Hình sự 2015;
Xử phạt bị cáo Siu ABên và Rah Lan Kơn mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án (07/5/2024) về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Giao các bị cáo Siu ABên và Rah Lan K cho Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-Về hình phạt bổ sung: Miễn xử phạt bổ sung cho các bị cáo Ksor C, Siu ABên và Rah Lan K.
+Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
-Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ksor C, Siu ABên và Rah Lan K
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay (07/5/2024) bị cáo, bị hại, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan quyền, nghĩa vụ của mình để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với người có quyền kháng cáo, nhưng vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩmphán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Thanh |
Bản án số 31/2024/HSST ngày 07/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ - TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 31/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC CƠ - TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Ksor Cân 18(mười tám) tháng tù
