Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 26/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Văn Đạt

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Nhàn

Ông Lê Văn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Thị Hường

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2024/QĐXXST-HS ngày 16/04/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên Nguyễn Sỹ T - Sinh ngày 29 tháng 04 năm 1991 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: xóm H, xã C, huyện T, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Sỹ T1 và bà Nguyễn Thị X; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 08/02/2024 đến ngày 17/02/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  2. Họ và tên Hà Văn H - Sinh ngày 15 tháng 01 năm 1994 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; Tên gọi khác: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Huy L và bà Phạm Thị L1; Vợ con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 11/12/2023 đến ngày 17/12/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Hà Minh Q, sinh năm 1995, nơi cư trú: khối C, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 11/12/2023, tại khu vực cây xăng L2, huyện Đ, tỉnh Nghệ An tổ công tác Công an huyện T chủ trì phối hợp với Chi cục hải quan cửa khẩu T2 và Công an xã L, huyện Đ đã kiểm tra và bắt quả tang Hà Văn H về hành vi tàng trữ hàng cấm.

Vào ngày 08/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Sỹ T về hành vi buôn bán hàng cấm.

Vật chứng thu giữ:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ của Hà Văn H 01(một) hộp xốp màu vàng, bên trong chứa 07 (bảy) khối hình hộp đều có kích thước tương đồng nhau (18x18x10cm), có nhiều màu sắc, trên bề mặt có chữ nước ngoài bên trong mỗi khối hình hộp đều có 49 khối hình trụ có đặc điểm tương đồng nhau đường kính 2cm, cao 10cm thu giữ trong quá trình bắt quả tang Hà Văn H có tổng khối lượng là 11,944 kg (Mười một phẩy chín trăm bốn mươi bốn kilogam). Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro max màu xanh đen đã qua sử dụng, số IMEI: 358406640855935, IMEI2: 358406640947070, bên trong điện thoại gắn sim có số: 0968.789.837 và số 0379.690.637 và 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Vario mang biển kiểm soát: 37D1-999.96.

Qua khám xét khẩn cấp tại nhà ở của Nguyễn Sỹ T Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã thu giữ của Nguyễn Sỹ T1 01 (một) thùng cát tông hình hộp chữ nhật, nhiều màu sắc kích thước 27x18x12cm, bên trong có chứa 01 (khối hình hộp chữ nhật nhiều màu sắc, bên trên bề mặt có chữ nước ngoài kích thước 17x17x10cm, thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở Nguyễn Sỹ T có tổng khối lượng là 1,552kg (Một phẩy năm trăm năm mươi hai kilogam). Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus đã qua sử dụng, số IMEL 356564085544679, số sê ri DX3Y9DFCHG06 thu giữ của bị cáo Nguyễn Sỹ T có lắp sim số 0974.948.063.

Tại Cơ quan điều tra các bị cáo khai nhận: Do có quen biết nhau từ trước, vào ngày 01 tháng 12 năm 2023, Hà Văn H đã dùng điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max trong đó có số điện thoại 0379.690.xxx và tài khoản Zalo tên “H” đăng ký từ số điện thoại 0968.789.xxx để liên lạc với Nguyễn Sỹ T sinh năm 1991, trú tại xóm H, xã C, huyện T, tỉnh Nghệ An qua số điện thoại 0974.948.xxx và tài khoản Zalo tên “Đời tài xế” đăng ký bởi số điện thoại 0974.948.xxx của T để đặt mua 7 khối pháo loại 49 quả (lúc này T đang làm việc lái xe ở thành phố D, tỉnh Bình Dương). T báo giá cho H là 1.100.000 đồng/ khối pháo, tuy nhiên do quen biết nên T chỉ lấy H số tiền 7.300.000 đồng cho 7 cối pháo, T yêu cầu H chuyển khoản qua số tài khoản ngân hàng số 0411001065343 tại Ngân hàng V của T rồi sau đó T sẽ gửi pháo qua đường xe khách cho H nhận. Nghe T nói vậy vào cùng ngày 01/12/2023, H đã sử dụng số tài khoản 5591205184120 từ tài khoản ngân hàng A1 của H chuyển khoản số tiền 7.300.000 đồng (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) đến số tài khoản 0411001065343 tại Ngân hàng V của T. Sau khi nhận được tiền từ H chuyển đến, T lên mạng xã hội Facebook để tìm và đặt mua 8 (tám) khối pháo loại 49 quả với giá 6.640.000 đồng (sáu triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng ), số pháo này được Shipper (người giao hàng chuyển phát) mang đến. T lấy ra 07 ( bảy) khối pháo rồi sử dụng 01 thùng xốp màu vàng để đóng gói số pháo trên và ghi số điện thoại của H phía ngoài thùng xốp. Khoảng một tuần sau, T đưa thùng xốp màu vàng đã dán kín ra bến xe Lam Hồng, tỉnh Bình Dương để gửi xe khách “H” chạy tuyến Bình Dương - Nghệ An. Khoảng 8 giờ ngày 11/12/2023, Hà Văn H nhận được điện thoại từ nhà xe Hoa Giang báo nhận hàng, hai bên thống nhất nhận hàng ở cây xăng L2 thuộc xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Do thùng xốp cồng kềnh nên Hà Văn H gọi điện nhờ anh Hà Minh Q, sinh năm 1995, trú tại khối C, thị trấn Đ, huyện Đ (Q là con chú ruột của H) để nhờ chở giúp, H nói với anh Q là có hàng từ miền nam gửi về nhưng không nói cụ thể là hàng gì nhờ anh Q chở hộ về nhà H thì anh Q đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vario biển kiểm soát 37D1 999.96 đến cây xăng xã L có địa chỉ tại xóm L, xã L, huyện Đ để chờ nhận hàng. Khoảng 9 giờ ngày 11/12/2023, khi xe ô tô khách Hoa Giang đi đến cây xăng L2 thì H chưa đến kịp nên khi nhà xe gọi điện thoại cho H thì H nói nhà xe để hàng lại bên đường, nhà xe bỏ thùng xốp màu vàng dán kín bằng băng keo bên trong chứa pháo xuống đường rồi đi, vừa lúc này H đi ra và thấy thùng xốp màu vàng ở bên đường nên H đứng chờ Q. Đến 9 giờ 30 phút ngày 11/12/2023, khi Q điều khiển xe ô tô nhãn hiệu KIA Soluto màu đỏ biển kiểm soát 37A-765.56 đi đến, Q dừng xe ở cây xăng L, H đi bộ đến nói Q mở cốp xe rồi H bê thùng xốp màu vàng dán kín bằng băng keo bên trong chứa pháo lên cốp xe của Q. Khi H đang đặt thùng xốp lên xe thì bị tổ công tác Công an huyện T chủ trì phối hợp với Chi cục hải quan cửa khẩu T2 và Công an xã L, huyện Đ phát hiện bắt quả tang và niêm phong vật chứng.

Ngày 11/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An tiến hành thành lập Hội đồng mở niêm phong, cân xác định khối lượng trích mẫu vật giám định và niêm phong lại 7 (bảy) khối hình hộp kích thước tương đồng nhau 18x18x10cm, có nhiều màu sắc, trên bề mặt có chữ nước ngoài bên trong mỗi khối hình hộp đều có 49 khối trụ có đặc điểm tương đồng nhau đường kính 2cm, cao 10cm thu giữ trong quá trình bắt quả tang Hà Văn H có tổng khối lượng là 11,944 kg (mười một phẩy chín trăm bốn mươi bốn kilogam). Hội đồng đã lấy 01 khối hình hộp có khối lượng 1.688kg ( một phẩy sáu trăm tám tám kilogam ) để gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 314/KL-KTHS(Đ2 - CN) ngày 15/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu thu giữ của Hà Văn H gửi giám định đều là pháo, thuộc pháo nổ. Mẫu cần giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Ngày 08/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Nghệ An tiến hành lập Hội đồng mở niêm phong, cân xác định khối lượng trích mẫu vật giám định và niêm phong 01 (một) khối hình hộp kích thước 17x17x10cm, có nhiều màu sắc, trên bề mặt có chữ nước ngoài thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở N có tổng khối lượng 1,552kg (một phẩy năm trăm năm mươi hai kilogam). Hội đồng đã lấy 01 khối hình hộp có khối lượng 1,552kg (Một phẩy năm trăm năm mươi hai kilogam) gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 296/KL-KTHS (Đ2-CN) ngày 26/02/2024 của Phòng K công an tỉnh N kết luận: Mẫu vật gửi đi giám định là pháo, thuộc pháo nổ. Mẫu cần giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Tại Bản cáo trạng số 36/CT-VKS-ĐL ngày 10/04/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương truy tố bị cáo Nguyễn Sỹ T về tội “ Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Hà Văn H về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Hà Văn H thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo có bố là Hà Huy L được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba và có mẹ là Phạm Thị L1 tham gia dân công hỏa tuyến và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo Nguyễn Sỹ T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo có ông nội là Nguyễn Sỹ C được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất và bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử đề nghị giữ nguyên việc truy tố

Bị cáo Nguyễn Sỹ T về tội “Buôn bán hàng cấm”, đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

Bị cáo Hà Văn H về tội “tàng trữ hàng cấm”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo

Xử lý vật chứng:

đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

  • Số tiền 7.300.000đ (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) từ bị cáo Nguyễn Sỹ T
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh đen đã qua sử dụng, số IMEI: 358406640855935, IMEI2: 358406640947070 thu giữ của Hà Văn H, 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 Plus đã qua sử dụng số IMEL 356564085544679, số sê ri DX3Y9DFCHG06 thu giữ của bị cáo Nguyễn Sỹ T.

Tịch thu tiêu hủy:

01 hộp xốp màu vàng, có chứa 06 (sáu) khối khối pháo nổ, mỗi khối có kích thước 18x18x10cm, có nhiều màu sắc, trên bề mặt có chữ nước ngoài, có tổng khối lượng là 10,256 kg (mười phẩy hai trăm năm mươi sáu kilogam) thu giữ ban đầu được niêm phong có chữ ký có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của Hà Văn H và sim số thuê bao: 0968 789 837, sim số 0379 690 637 thu giữ của Hà Văn H, sim số thuê bao 0974 948 063 thu giữ của Nguyễn Sỹ T.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về sự vắng mặt của người làm chứng: Tại phiên tòa người người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ và không ảnh hưởng tới quá trình xét xử vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, 299 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Sỹ T và Hà Văn H thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với Bản kết luận giám định của phòng kỷ thuật Công an tỉnh N. Như vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: vào ngày 01 tháng 12 năm 2023, do được Hà Văn H đặt mua 7 khối pháo nổ để sử dụng nên Nguyễn Sỹ T đã đặt mua trên mạng xã hội Faceboook 8 khối pháo với tổng khối lượng 13,496 kg pháo nổ nhằm mục đích mua bán kiếm lời. Cùng ngày 01/12/2023, sau khi Hà Văn H chuyển khoản số tiền 7.300.000đ (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) đến tài khoản của Nguyễn Sỹ T, T đã bán 07 khối pháo nổ với khối lượng 11,944 kg ( mười một phẩy chín trăm bốn mươi bốn kilogam) cho Hà Văn H. Đến khoảng 9 giờ 30 phút ngày 11/12/2023, tại cây xăng L xóm L, xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, trong quá trình nhận hàng là pháo nổ của Nguyễn Sỹ T gửi xe khách H từ tỉnh Bình Dương về tỉnh Nghệ An, Hà Văn H bị tổ công tác Công an huyện T, tỉnh Nghệ An phối hợp với Chi cục hải quan cửa khẩu T2, công an xã L, huyện Đ bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 11,944 kg (Mười một phẩy chín trăm bốn mươi bốn kilogam) pháo nổ nhằm mục đích sử dụng. Đối với 01 khối pháo nổ còn lại có khối lượng 1,552 kg, Nguyễn Sỹ T cất dấu tại nhà riêng của mình tại xóm H xã C, huyện T, tỉnh Nghệ An nhằm mục đích ai mua thì bán kiếm lời . Tại thời điểm thực hiện hành vi các bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình, như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Sỹ T đã đủ yếu tố cấu thành tội “buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự, hành vi của bị cáo Hà Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự đúng như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương.

[4]. Xét tính chất, nhân thân: Hành vi của các bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế (kinh doanh mặt hàng pháp luật cấm), làm ảnh hưởng đến sự bình thường của hoạt động quản lý Nhà nước về pháo và sử dụng pháo. Do vậy, cần lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[5]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Sỹ T và Hà Văn H thành khẩn khai báo và thật sự ăn năn hối cải (là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự), bị cáo Hà Văn H phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, ngoài ra Hà Văn H sau khi phạm tội đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong việc giải quyết vụ án và phát hiện ra đồng phạm mới (là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự), bị cáo Nguyễn Sỹ T có ông nội là Nguyễn Sỹ C được tặng Huy chương kháng Chiến hạng Nhất, bị cáo Hà Văn H có ông nội Hà Huy L được tặng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba và có mẹ là Phạm Thị L1 tham gia dân công hỏa tuyến ( là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự).

Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Nguyễn Sỹ T, Hà Văn H phạm tội lần đầu, tuổi đang còn trẻ, nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và trong quá trình lao động, sinh hoạt tại địa phương đều chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho các bị cáo cải tạo tại địa phương để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cũng đủ nghiêm.

[6]. Về hình phạt bổ sung: theo quy định của pháp luật các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét các bị cáo hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Sỹ T và Hà Văn H.

[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu xanh đen đã qua sử dụng, số IMEI: 358406640855935, IMEI2: 358406640947070 thu giữ của Hà Văn H, 01 chiếc điện thoại di dộng nhãn hiệu Iphone 7 Plus đã qua sử dụng số IMEL 356564085544679, số sêri DX3Y9DFCHG06 thu giữ của bị cáo Nguyễn Sỹ T là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc thực hiện việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước

Đối với số tiền 7.300.000đồng bị cáo Nguyễn Sỹ T có được do phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước

Đối với 1,688kg pháo thu giữ của bị cáo Hà Văn H và 1,552kg pháo thu giữ của bị cáo Nguyễn Sỹ T đã được sử dụng hết vào mục đích giám định kỹ thuật hình sự nên không xem xét; 01 thùng cát tông hình hộp chữ nhật nhiều màu sắc, 01 hộp xốp màu vàng, có chứa 06 (sáu) khối khối pháo nổ, mỗi khối có kích thước 18x18x10cm, có nhiều màu sắc, trên bề mặt có chữ nước ngoài, có tổng khối lượng là 10,256 kg (mười phẩy hai trăm năm mươi sáu kilogam) thu giữ ban đầu được niêm phong có chữ ký có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của Hà Văn H là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy; Sim có số thuê bao là: 0968 789 837 và số 0379 690 637 của bị cáo Hà Văn H, 01 sim số thuê bao 0974 948 063 của bị cáo Nguyễn Sỹ T sử dụng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội hiện không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại: Vario mang biển kiểm soát 37D1-99996, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là xe mô tô thuộc sở hữu của Hà Văn H, chiếc xe này không sử dụng để chở pháo nổ nên Cơ quan điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho Hà Văn H theo đúng quy định.

[8]. Các vấn đề khác: Đối với anh Hà A Q là người được H nhờ ra chở hộ số pháo nổ ngày 11/12/2023, quá trình điều tra xác định tại thời điểm H nhờ anh Q chở hộ thùng xốp chứa pháo nổ, H không nói cụ thể nhờ chở hàng gì, anh Q tại thời điểm tiếp nhận hàng cũng không biết về việc H mua pháo nổ nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với anh Hà Anh Q1.

Đối với nhà xe Hoa G nhận hàng mà Nguyễn Sỹ T gửi pháo nổ và Hà Văn H nhận pháo nổ vào ngày 11/12/2023, quá trình điều tra Nguyễn Sỹ T và Hà Văn H không biết tên của lái xe, phụ xe và biển số xe ô tô, mặt khác qua xác minh tại nhà xe Hoa Mai và bến xe huyện T (là điểm đi và điểm đến) của nhà xe Hoa Giang) không có nhật ký theo dõi nhận gửi hàng, không lưu thông tin về tài xế và phụ xe nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với tài xế và phụ xe Hoa Giang về hành vi vận chuyển hàng cấm.

[9]. Về án phí: bị cáo Nguyễn Sỹ T và Hà Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ T 15 (mười lăm) tháng tù về “Buôn bán hàng cấm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Hà Văn H 10 (mười) tháng tù về tội “Tàng trữ hàng cấm”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm

Giao bị cáo Nguyễn Sỹ T cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Hà Văn H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2.] Về hình phạt bổ sung: Miễn áp hình phạt bổ sung cho các bị cáo

[3]. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước:

  • Số tiền 7.300.000đ (bảy triệu ba trăm nghìn đồng) từ bị cáo Nguyễn Sỹ T
  • 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 ProMax màu xanh đen, IMEI: 358406640855935, IMEI2: 358406640947070 thu giữ của bị cáo Hà Văn H và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus đã qua sử dụng số IMEL 356564085544679, số sê ri DX3Y9DFCHG06 thu giữ của bị cáo Nguyễn Sỹ T.

Tịch thu, tiêu hủy:

  • sim số thuê bao 0968 789 837 và số 0379 690 637 thu giữ của bị cáo Hà Văn H, 01 sim số thuê bao 0974 948 063 thu giữ của bị cáo Nguyễn Sỹ T
  • ( Vật chứng trên có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/4/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương).
  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 hộp xốp màu vàng, có chứa 06 (sáu) khối khối pháo nổ, mỗi khối có kích thước 18x18x10cm, có nhiều màu sắc, trên bề mặt có chữ nước ngoài, có tổng khối lượng là 10,256 kg (mười phẩy hai trăm năm mươi sáu kilogam) thu giữ ban đầu được niêm phong có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia niêm phong và chữ ký của Hà Văn H
  • ( Vật chứng trên có tại Công an huyện Đ theo phiếu nhập kho số 08/PNK, ngày 31/12/2023)

[4]. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Sỹ T và Bị cáo Hà Văn H mỗi người chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Đô Lương;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - CQĐT Công an huyện Đô Lương;
  • - CQTHAHS huyện Đô Lương;
  • - CCTHADS huyện Đô Lương;
  • - Lưu HS, VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN về vụ án hình sự về tội buôn bán hàng cấm và tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Buôn bán hàng cấm và Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG – TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger