|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST Ngày 19-4-2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh P |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền .
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Quyết
- Bà Nguyễn Thị Tâm
- - Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.
- - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện VB tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 02 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024; Quyết đinh hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H; đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn LĐ, xã TP, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Thôn TH, xã HH huyện VB, thành phố Hải Phòng; có mặt
- - Bị đơn: Anh Đỗ Văn P; nơi cư trú: Thôn LĐ, xã TP, huyện VB, thành phố Hải Phòng; vắng mặt không có lý do
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày: Chị và anh Đỗ Văn P kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 24-8-2009 tại Ủy ban nhân dân xã TP, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận thời gian đầu và có 03 con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Từ tháng 8/2023 đến nay chị đã đưa con chung về gia đình chị ở Thôn Trúc Hiệp, xã Hiệp Hòa, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống. Vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau, đối xử với nhau lạnh nhạt. Nay nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Đỗ Văn P.
Về con chung: Chị và anh Đỗ Văn P có 03 con chung là Đỗ Thị Thùy T, sinh ngày 28-3-2010, Đỗ Quang H, sinh ngày 10-3-2015 và Đỗ Quang T, sinh ngày 06-7-2020. Quá trình giải quyết vụ án, chị đề nghị Tòa án giao hai con là Đỗ Quang H và Đỗ Quang T cho chị nuôi dưỡng, tại phiên tòa chị đề nghị Tòa án giao con Đỗ Quang T cho chị nuôi dưỡng, giao hai con là Đỗ Thị Thùy T và Đỗ Quang H cho anh P nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con chị xin tự giải quyết với anh P .
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản ghi lời khai và trong quá trình giải quyết vụ án, anh Đỗ Văn P xác nhận về điều kiện hoàn cảnh kết hôn như chị Phạm Thị H trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận hạnh P thời gian đầu và có ba con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, mặt khác do anh chơi bời, nợ nần nên chị H đã đưa con về mẹ đẻ ở xã Hiệp Hòa, huyện VB, thành phố Hải Phòng sinh sống. Anh đã nhiều lần tìm chị H, tuy nhiên chị không về đoàn tụ cùng anh. Vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị H xin ly hôn anh không đồng ý.
Về con chung: Anh và chị Phạm Thị H có 03 con chung là Đỗ Thị Thùy T, sinh ngày 28-3-2010, Đỗ Quang H, sinh ngày 10-3-2015 và Đỗ Quang T, sinh ngày 06-7-2020. Trường hợp vợ chồng ly hôn, anh đề nghị Tòa án giao hai con là Đỗ Thị Thùy T và Đỗ Quang H cho anh nuôi dưỡng, giao con Đỗ Quang T cho chị H nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con anh xin tự giải quyết với chị H.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách của những người tham gia tố tụng; thu thập chứng cứ, việc xét xử vắng bị đơn. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do, tuy nhiên vi phạm của bị đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.
Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn P. Về con chung: Giao hai con là Đỗ Thị Thùy T, sinh ngày 28-3-2010, Đỗ Quang H, sinh ngày 10-3-2015 cho anh Đỗ Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, giao con Đỗ Quang T, sinh ngày 06-7-2020 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị Phạm Thị H xin tự giải quyết với anh Đỗ Văn P nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn P không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- - Về tố tụng:
- [1] Anh Đỗ Văn P có hộ khẩu thường trú tại Thôn LĐ, xã TP, huyện VB, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án ly hôn giữa chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn P thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng.
- [2] Tại phiên tòa, anh Đỗ Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa, tuy nhiên anh P vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đỗ Văn P.
- - Về nội dung vụ án:
- [3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn P kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TP, huyện VB, thành phố Hải Phòng vào ngày 24-8-2009, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị hoà thuận thời gian đầu và có ba con chung. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp nên đã xảy ra bất hòa. Nay chị Phạm Thị H xác định tình nghĩa vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, chị đề nghị được ly hôn anh Đỗ Văn P. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đỗ Văn P không đồng ý ly hôn với chị H . Qua xác minh thì thấy, vợ chồng chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn P có mâu thuẫn, từ tháng 8/2023 đến nay vợ chồng anh chị sống ly thân, mỗi người ở một nơi, không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Yêu cầu của chị Phạm Thị H xin ly hôn anh Đỗ Văn P phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình được chấp nhận.
- [4] Về con chung: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn P có ba con chung là Đỗ Thị Thùy T, sinh ngày 28-3-2010, Đỗ Quang H, sinh ngày 10-3-2015 và Đỗ Quang T, sinh ngày 06-7-2020. Tại phiên tòa, chị H đề nghị Tòa án giao con Đỗ Quang T cho chị nuôi dưỡng, giao con Đỗ Thị Thùy T và Đỗ Quang H cho anh P nuôi dưỡng. Quá trình giải quyết vụ án anh P đề nghị Tòa án giao hai con là Đỗ Thị Thùy T và Đỗ Quang H cho anh nuôi dưỡng, giao con Đỗ Quang T cho chị H nuôi dưỡng. Xét yêu cầu đề nghị nuôi con chung của anh chị, Hội đồng xét xử nhận định: Chị H và anh P có nơi ở và thu nhập ổn định, cháu Đỗ Thị Thùy T và Đỗ Quang H hiện đang ở với anh P và đều có nguyện vọng xin ở với anh P, cháu Đỗ Quang T còn nhỏ đang ở với chị H . Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của chị H, giao con chung Đỗ Quang H cho cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, giao hai con chung là Đỗ Thị Thùy T và Đỗ Quang H cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chị Phạm Thị H xin tự giải quyết với anh Đỗ Văn P nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- [5] Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn P không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- [6] Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Đỗ Văn P.
- Về con chung: Giao 02 con chung là Đỗ Thị Thùy T, sinh ngày 28-3-2010, Đỗ Quang H, sinh ngày 10-3-2015 cho anh Đỗ Văn P trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Đỗ Quang T, sinh ngày 06-7-2020 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con, chị Phạm Thị H xin tự giải quyết với anh Đỗ Văn P nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn P không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Phạm Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Phạm Thị H đã nộp tạm ứng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009245 ngày 22 tháng 02 năm 2024. Chị Phạm Thị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương Huyền |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn tranh chấp nuôi con chia tai sản giữa chị Phạm Thị H và anh Đỗ Văn P
