Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày 23-4-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN – THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Sơn Thị Nhân

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thiện

Bà Mai Thị Duyên

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Trần Phương Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Bùi Tiến L, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1989 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Số 9 B185, tổ 4 (tổ 2 mới), phường T, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; con ông Bùi Quốc T (đã chết) và bà Phạm Thị B; có vợ là Phạm Thanh H (đã ly hôn) và 01 con; tiền án: Bản án số 68/2009/HSST ngày 22/4/2009, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 72 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Bản án số 33/2016/HSST ngày 28/9/2016, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 39/2019/HSST ngày 07/3/2019, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (các tiền án đều chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 30/12/2023, chuyển tạm giam ngày 02/01/2024; có mặt.

Bị hại: Anh Lê Văn C; địa chỉ: Số 1059A đường N, phường N, quận Hải An, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 24 tháng 7 năm 2023, Bùi Tiến L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream (chưa xác định được BKS) chở Đỗ Kim T (sinh năm 1974; ĐKHKTT: Số 108/69 đường C, phường Trại Cau, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng) đi lòng vòng mục đích xem nhà nào sơ hở thì trộm cắp tài sản. Khi đến nhà của anh Lê Văn C ở số 1059A đường N, phường N, quận Hải An, thành phố Hải Phòng, T bảo bị cáo dừng xe để vào kiểm tra. T nhìn vào trong nhà qua lỗ khóa cửa thì phát hiện tại gian để xe bên trong nhà có 01 chiếc ô tô và 02 chiếc xe máy nên bảo bị cáo gọi điện thoại cho Nguyễn Đình Q (sinh năm 1984; ĐKHKTT: Số 6 B235, tổ 3, phường T, quận Hải An, thành phố Hải Phòng) đến để cùng thực hiện việc trộm cắp tài sản. Sau khi gọi điện cho Q, bị cáo đưa cho T 01 chiếc cờ lê bằng kim loại (dài khoảng 30 – 40 cm) để phá khóa cửa rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. Khoảng 03 giờ 20 phút cùng ngày, Nguyễn Đình Q đi taxi đến khu vực trước cửa nhà anh Lê Văn C thì gặp T đang đứng cách nhà anh C khoảng 10m. T dẫn Q đi ra khu vực ngõ cạnh nhà anh C để cảnh giới còn T cầm cờ - lê rồi đột nhập vào nhà anh C để trộm cắp tài sản. T đi qua gian để xe, vào phòng khách để lục tìm nhưng không tìm được tài sản gì. T tiếp tục đi vào gian phòng ngủ bên trái hường từ cửa vào lục tìm thì thấy trong túi quần đùi để trên cây treo quần áo có 01 bì thư, bên trong có tiền. T lấy phong bì tiền cho vào túi quần rồi quay lại gian để xe kiểm tra thì thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 15B – 499.27 vẫn cắm chìa khóa trên xe. T dắt chiếc xe mô tô ra khỏi nhà anh C rồi đưa cho Q mang đi cất giấu. Q điều khiển chiếc xe này về nhà anh Nguyễn Bách D (sinh năm 1975; trú tại: Số 16 B61, tổ 2, phường T, quận Hải An, thành phố Hải Phòng gửi. Lúc này, bị cáo quay lại hiện trường để đón T. Trên đường đi về, T gọi điện hỏi Q đang ở đâu thì Q hướng dẫn địa chỉ nhà D. Khi T và bị cáo đến gần nhà D ở khu vực bờ đê phường Thành Tô, quận Hải An, thành phố Hải Phòng thì gặp Q đi bộ ra. Sau đó, T, Q và bị cáo đi về nhà.

Khi về nhà T kiểm tra trong phong bì thư vừa trộm cắp được có 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) tiền mặt. Số tiền này T không nói cho Q và bị cáo biết và đã tiêu xài cá nhân hết.

Chiều ngày 24 tháng 7 năm 2023, Q quay lại nhà anh Nguyễn Bách D lấy chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 15B1 - 499.27 đưa cho Bùi Tiến L. Sau đó, L về nhà lên mạng Internet tìm được thông tin của một người nam giới có nhu cầu mua xe và đã liên lạc với người này (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch địa chỉ của người nam giới mua xe cũng như các số điện thoại dùng vào việc liên lạc). Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo và T theo sự hướng dẫn qua điện thoại của người nam giới này mang chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 15B1 – 499.27 đến một khu vực trên địa bàn huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng (hiện không xác định được vị trí và địa chỉ cụ thể). Tại đây, bị cáo gặp người nam giới trên và trực tiếp trao đổi giao dịch bán chiếc xe với giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Số tiền này, bị cáo chia cho T 1.000.000 đồng (một triệu đồng) và chia cho Q 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng), còn bị cáo cầm 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng).

Sau khi sự việc xảy ra, anh Lê Văn C có đơn trình báo Công an phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Ngày 30 tháng 7 năm 2023, tổ Công tác Công an quận Hải An đã phát hiện và tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 15B1 – 499.27 tại khu vực đường nội bộ khu tái định cư Quân khu 3, thuộc tổ dân phố số 2, phường Nam Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng.

Tại bản Kết luận định giá số 21/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hải An kết luận: Giá trị của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc, BKS 15B1-499.27, số khung CY – 578124, số máy C52E – 4273924 tại thời điểm tháng 7/2023 là 7.483.000 đồng (bảy triệu bốn trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Do bị cáo bỏ trốn, ngày 05 tháng 12 năm 2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An đã ra Quyết định truy nã số 12 đối với bị cáo. Ngày 30 tháng 12 năm 2023, bị cáo đến Cơ quan Công an đầu thú.

Về vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 15B1 – 499.27, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh Lê Văn C là người quản lý sử dụng hợp pháp. Đối với vật chứng là chiếc cờ - lê bằng kim loại, dài khoảng 30 – 40 cm Đỗ Kim T đã sử dụng để phá khóa, Nguyễn Đình Q đã vứt lại ven đường gần khu vực nhà anh Cường, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Văn C không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKSHA ngày 26/3/2024, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, buộc bị cáo Bùi Tiến L phải nộp ngân sách Nhà nước số tiền thu lợi bất chính là 1.300.000 đồng. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hải An, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của Đỗ Kim T, Nguyễn Đình Q, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khoảng 03 giờ 20 phút ngày 24 tháng 7 năm 2023, tại số 1059A đường N, phường N, quận Hải An, thành phố Hải Phòng bị cáo Bùi Tiến L cùng với Đỗ Kim T, Nguyễn Đình Q đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Lê Văn C gồm: 01 chiếc xe mô tô Honda Wave BKS 15B1 – 499.27 trị giá 7.483.000 đồng; số tiền 4.600.000 đồng một mình T chiếm đoạt, bị cáo và Q không hề biết. Bị cáo đã có 03 tiền án chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm”, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Tiến L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn, sau khi bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An ra Quyết định truy nã, ngày 30/12/2023 bị cáo Bùi Tiến L đến Cơ quan Công an đầu thú. Vì vậy, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian theo quy định của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và đầu thú được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo Bùi Tiến L có nhân thân xấu, bị cáo đã có 03 tiền án chưa được xoá án tích, Bản án số 68/2009/HSST ngày 22/4/2009, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 72 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Bản án số 33/2016/HSST ngày 28/9/2016, Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án số 39/2019/HSST ngày 07/3/2019, Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố thành phố Hải Phòng xử 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; lần phạm tội này với tình tiết định khung là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[7] Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo (khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự).

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Lê Văn C không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về vật chứng: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS 15B1 – 499.27, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho anh Lê Văn C là người quản lý sử dụng hợp pháp. Đối với vật chứng là chiếc cờ - lê bằng kim loại, dài khoảng 30 – 40 cm Đỗ Kim T đã sử dụng để phá khóa, Nguyễn Đình Q đã vứt lại ven đường gần khu vực nhà anh Cường, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được.

[10] Đối với số tiền 3.000.000 đồng mà bị cáo bán 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 15B1-499.27 đã chiếm đoạt được của bị hại, trong đó bị cáo được hưởng số tiền là 1.300.000 đồng, đây là số tiền thu lợi bất chính cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

[11] Đối với Đỗ Kim T và Nguyễn Đình Q đã được xét xử theo bản án số 03/2024/HSST ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng

[12] Đối với người đàn ông mua bán chiếc xe Honda Wave, BKS: 15B1-499.27, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch địa chỉ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hải An, thành phố Hải Phòng tiếp tục điều tra, xác minh, xử lý sau.

[13] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Bùi Tiến L phạm tội “Trộm cắp tài sản”,

Xử phạt bị cáo Bùi Tiến L 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/12/2023.

Buộc bị cáo Bùi Tiến L phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 1.300.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Bùi Tiến L phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Công an quận Hải An;
  • - PV06, PC10 Công an TP. Hải Phòng;
  • - VKSND quận Hải An;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - TAND TP. Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP. Hải Phòng;
  • - Chi cục THA DS quận Hải An;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Sơn Thị Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trom cap
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger