|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày 17 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH – TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Danh Phú và bà Phan Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Quang Sáng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Luyện Văn Thông - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại:
Đ: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
Điểm cầu thành phần: Phòng xử án trực tuyến - Trại tạm giam Công an tỉnh N.
Xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 25/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 02/4/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Đình T; tên gọi khác: không; sinh ngày 12 tháng 3 năm 1977 tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: xóm D, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: xóm A, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/10; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Trọng Đ (đã chết) và bà Phan Thị H; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 28/10/2013 bị Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) về tội đánh bạc; Ngày 30/11/2017 bị Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội đánh bạc; Ngày 27/8/2019 bị Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc, tổng hợp 09 tháng tù của bản án số 79/2017/HS-ST ngày 30/11/2017, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 15 tháng tù. Bị cáo đã chấp hành xong bản án. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến nay (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1964; Địa chỉ: xóm B, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, Công an xã T, huyện Y phát hiện bắt quả tang Vũ Đình T đang có hành vi tàng trữ chất ma túy tại trang trại thuộc xóm A, xã T, huyện Y, thu giữ trên giường ngủ 01 đoạn ống hình trụ tròn bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; Tam tư nguyện giao nộp 01 gói ni lông màu hồng bên trong chứa 38 viên nén hình tròn màu hồng và 01 gói ni lông màu xanh bên trong chứa 52 viên nén hình tròn màu hồng. Vũ Đình T khai nhận toàn bộ số chất rắn màu trắng và số viên nén hình tròn màu hồng đều là ma túy hồng phiến.
Quá trình điều tra T khai nhận: khoảng 16 giờ 00 phút ngày 22/01/2024, T điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen, mang BKS: 37P1-283.56 (Tam mượn của ông Hoàng Văn T1 trú tại xóm B, xã T) để đi đến ngã ba D, thị trấn D, huyện D mua ma túy về sử dụng. Tại đây, T gặp một người đàn ông làm nghề lái xe ôm tự xưng tên S (T không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể của người này). Tam hỏi mua ma túy của người này thì người này đồng ý bán cho T. Sau đó T đưa cho người đàn ông tên S 4.500.000 đồng. Người này cầm tiền, khoảng 30 phút sau, S quay lại đưa cho Tam 01 (một) đoạn ống hình trụ tròn màu trong suốt, bên trong ống có một gói ni lông có chứa ma túy, 01 (một) gói ni lông màu hồng chứa 38 viên hình tròn màu hồng và 01(một) gói ni lông màu xanh chứa 52 viên nén hình tròn màu hồng bên trong đều chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, T về nhà cất 2 gói ma túy vào góc bếp và mang 01 (một) đoạn ống hình trụ tròn màu trong suốt cất trong túi quần dài mặc trên người. Đến 18 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, T đang ngồi trên giường chuẩn bị lấy ma túy cất trong túi quần ra sử dụng thì bị Công an xã T, huyện Y phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng nêu trên.
Tại bản kết luận giám định số 218/KL-KTHS ngày 27 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- Các mẫu vật (kí hiệu M1, M2, M3) thu giữ của Vũ Đình T gửi đến giám định đều là chất ma túy; loại Methamphetamine.
- Số viên nén hình tròn màu hồng thu giữ của Vũ Đình T có tổng khối lượng 9,175g (chín phẩy một bảy lăm gam).
- Số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Vũ Đình T có khối lượng 0,11g (không phẩy mười một gam).
Cáo trạng số 33/CT-VKS-YT ngày 18/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo Vũ Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Vũ Đình T từ 05 năm 09 tháng đến 06 năm tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ còn lại sau giám định của bị cáo Vũ Đình Tam .
- Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo đồng ý với hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố, không có tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Tại phiên tòa bị cáo Vũ Đình T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 18 giờ 00 phút ngày 23/01/2024 tại trang trại thuộc xóm A, xã T, huyện Y, bị cáo Vũ Đình T đang có hành vi tàng trữ trái phép 9,285g (chín phẩy hai trăm tám mươi lăm gam) ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Công an xã T, huyện Y phát hiện bắt quả tang. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
[2.2]. Về tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với chất ma túy, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Toà án nhân dân huyện Yên Thành xét xử nhiều lần về tội “Đánh bạc” nhưng không chịu lấy đó làm bài học để sửa chữa, làm ăn lương thiện mà lại tiếp tục phạm tội nên cần xử lý nghiêm mới đủ răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có mẹ lập thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được trao tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Với những phân tích như trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo cao hơn mức khởi điểm của khung hình phạt và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là đủ nghiêm, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, lại là người nghiện ma túy và không có tài sản riêng. Do đó hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền hoặc hình phạt khác đối với bị cáo.
[2.4]. Về vật chứng, xử lý vật chứng: Số ma tuý thu giữ còn lại sau giám định là 8,225g (T2 phẩy hai trăm hai mươi lăm gam) ma túy Methamphetamine, cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong 01 (Một) phong bì thư Công an huyện Y. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme9 thu giữ của bị cáo Vũ Đình T được xác định không liên quan đến việc phạm tội, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Phan Thị H là đúng quy định. Còn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen, mang biển kiểm soát 37P1 -283.56, xe đã qua sử dụng là tài sản của chị Nguyễn Thị H1 nhưng đã cho ông Hoàng Văn T1 làm phương tiện đi lại hàng ngày. Bị cáo dùng chiếc xe này vào việc phạm tội tuy nhiên ông T1 và chị H1 không biết bị cáo sử dụng vào thực hiện tội phạm. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu và người quản lý tài sản hợp pháp tài sản đó là đúng quy định của pháp luật.
[2.5]. Về các vấn đề khác: Đối với người đàn ông tên S bán ma túy cho bị cáo Vũ Đình T, hiện tại không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y sẽ tiếp tục điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
[3].Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về hình phạt: Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
Xử phạt: Bị cáo Vũ Đình T 05 (Năm) năm 09 (C) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (24/01/2024). Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 8,225g (T2 phẩy hai trăm hai mươi lăm gam) ma túy Methamphetamine cùng vỏ vật chứng và vỏ bao bì niêm phong ban đầu được niêm phong trong 01 (một) phong bì thư Công an huyện Y.
Vật chứng đã được chuyển giao cho Chi cục thi hành án Dân sự huyện Yên Thành quản lý. Chi tiết vật chứng khi thi hành án thực hiện theo biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho đề cùng ngày 8/4/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Y và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành.
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, buộc bị cáo Vũ Đình T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Nguyễn Quang Bình |
6
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Đình T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo khoản 2 điều 249 BLHS
