|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/DS-PT Ngày: 15 - 04 - 2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải
Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Hồng Vân – Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 04 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án dân sự thẩm thụ lý số: 123/2023/TLPT-DS ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 49A/2023/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 74/2024/QĐXXPT-DS ngày 01 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1963 và Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1962. Đều có địa chỉ: xóm E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt
Bị đơn: Ông Nguyễn Tất H, sinh năm 1985 và Bà Lưu Thị L1, sinh năm 1990; Địa chỉ: xóm E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Tất H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L trình bày:
Vợ chồng ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L có thửa đất thổ cư do bố mẹ để lại. Đến năm 2008 thì vợ chồng ông T, bà L đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích là 2063 m² mang ký hiệu AN 886063 cấp ngày 06/8/2009 thuộc thửa đất số 221, tờ bản đồ số 24 mang tên Lê Văn T và Nguyễn Thị L (trong đó diện tích đất ở là 1.500m² và đất trồng cây lâu năm là 863m²), thời hạn sử dụng đến 2059. Đến năm 2014 do vợ chồng ông T gặp khó khăn về kinh tế nên đã bán cho ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 với diện tích đất có kích thước:10m x 35 m = 350m² đất, giá cả đất do hai bên thỏa thuận và có giấy viết tay, sau đó đơn vị đo đạc của Văn phòng đất huyện Đ về đo đạc cụ thể diện tích đất chuyển nhượng cho gia đình ông H với diện tích là 402,0 m² tăng hơn so với giấy viết tay. Đến ngày 20/8/2021 thì gia đình ông T và gia đình ông H mới làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chứng thực tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An và ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 đã được Sở T2 -UBND tỉnh T2 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang mã số DB 862628 tại thửa đất số 1402, tờ bản đồ số 24, diện tích 402,0 m² (trong đó 200,0 m² đất ở và 202 m² đất trồng cây lâu năm). Trong lúc đó gia đình ông T cũng được Sở Tài Nguyên Môi trường UBND tỉnh T2 cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang mã số DB 86262 tại thửa đất số 1403, tờ bản đồ số 24 với diện tích 1651,3 m² (trong đó: 1300,0 m² đất ở và 351,3 m² đất trồng cây lâu năm).
Ngày 20/6/2022 gia đình ông T đã làm đơn tách thửa 1403, tờ bản đồ số 24 thì mới biết được gia đình ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 đã lấn chiếm của gia đình ông T là với diện tích đất là 67,8 m². Hiện nay thửa đất của gia đình ông được Đoàn đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đất huyện Đ đo lại và tách thành ba thửa gồm thửa 216 có diện tích 67,8 m², thửa đất 2187 có diện tích 549,5 m² và thửa đất số 2188 có diện tích 1043 m². Nay ông làm đơn yêu cầu gia đình ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 phải trả cho gia đình ông T diện tích đất là 67,8 m².
Theo Bản tự khai và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 (người được ủy quyền ông Nguyễn Tất H) trình bày: Vợ chồng ông Nguyễn Tất H, bà Lưu Thị L1 và gia đình ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L đã thỏa thuận bán mảnh đất hiện nay vợ chồng ông H đang sử dụng vào năm 2013, sau đó sang năm 2014, gia đình ông H xây nhà ở và bờ tường bao quanh vườn làm ranh giới các thửa đất giữa hai gia đình. Khi gia đình ông H xây nhà thì ông T yêu cầu ông H phải xây bờ tường rào kế cận phần đã xây nhà ở của gia đình ông, do thấy sự việc phức tạp nên đến ngày 30 tháng 01 năm 2015, gia đình ông H và gia đình ông T đã thống nhất bằng biên bản có chứng kiến của xóm trưởng, trong biên bản ghi rõ diện tích mua bán là 10 mx 35 m (phía Bắc giáp đường tính thẳng, phần cong không tính và cho chủ mua), với số tiền 10 x 11 triệu = 110.000.000đ và thống nhất làm bìa đỏ trước ngày 30/3/2015 (dương lịch). Nhưng thực tế đến trước ngày 16/8/2021, gia đình ông T nói làm bìa đỏ cho gia đình ông H và bảo khi mua 350 m², nay đo đạc lại tổng diện tích hơn 400m², do vậy gia đình ông T yêu cầu gia đình ông H đưa thêm 20 triệu đồng. Do mua đất đã lâu từ năm 2013 đến năm 2021 vẫn chưa làm được sổ đỏ, trong lúc gia đình ông Hậu C có sổ đỏ để vay vốn ngân hàng nên gia đình ông H đã chấp nhận theo yêu cầu của gia đình ông T. Tuy nhiên đến ngày 16/8/2021 thì ông T lại đòi 40 triệu đồng cho nên vợ ông là Lưu Thị L1 không đồng ý. Nhưng sau đó gia đình ông H và gia đình ông T thống nhất thỏa thuận số tiền gia đình ông H đưa cho gia đình ông T số tiền 30 triệu đồng, gia đình ông H đã đưa trước cho ông T 10.000.000đ. Hai bên đã thống nhất thời gian sau 02 tháng ( kể từ ngày 16/8/2021 ) làm xong bìa đỏ cho gia đình ông H và gia đình ông đưa cho gia đình ông T số tiền còn lại là 20 triệu đồng và hai bên gia đình đã thực hiện theo đúng như cam kết.
Đến đầu năm 2022, gia đình ông T bán đất cho chủ khác thì nói gia đình ông H lấn chiếm đất của ông T với diện tích 67,8 m² và ông T đã gửi đơn đến các Ban nghành và Phòng giáo dục huyện Đ là cơ quan nơi ông H đang công tác với mục đích nhằm bôi nhọ danh dự ông vì cơ quan ông không liên quan đến việc tranh chấp đất đai. Theo ông H trình bày trước khi ông mua đất thì xóm đã mở thêm đường để đường thẳng hơn và lúc ông xây tường rào ở phía giáp đường xóm thì cán bộ xóm có nhắc nhở ông H xây hàng rào lấn ra đường, do đó không thể nói đất ông H còn phía ngoài đường được. Hơn nữa ở bìa đất theo hợp đồng (30/01/2015) thì chiều rộng (phía Đông và phía T1) phải đủ 10,5 m nhưng thực tế ở sổ đo đạc không đến (phía Đông hơn 9 m; phía Tây hơn 7 m). Cho nên gia đình ông H còn thiếu đất so với thống nhất mua bán trước đó, ông H đã đưa cho ông T đủ số tiền 140.000.000 đồng là thừa tiền so với hợp đồng và tại biên bản mua bán đất (ngày 30/01/2015) hai bên thống nhất theo mốc cũ và thêm ra 50 cm để xây tường bờ rào chung ngăn cách giữa hai gia đình với nhau. Giá tiền đất thêm để xây là 12 triệu đồng trên một mét ngang. Do bờ tường rào và nhà ở của gia đình ông H xây vào năm 2014, cho nên khi ký hồ sơ chuyển nhượng đất năm 2021 gia đình ông hiểu sẽ đo đạc ranh giới của hai thửa đất của gia đình ông H và gia đình ông T lấy bức tường bờ rào ngăn cách. Việc đo đạc của cán bộ Văn phòng đất huyện Đ gia đình ông cũng không được chứng kiến nên đã ký vào hồ sơ mà không biết họ đã đo đạc sai thực tế. Ông H không đồng ý trả diện tích đất theo ông T yêu cầu cho rằng gia đình ông H đã lấn chiếm.
Với nội dung trên bản án dân sự sơ thẩm số số 49A/2023/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào khoản 3 Điều 155, Điều 164, Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ vào các Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165. Điều 166 của Bộ luật tố tụng dân sự; Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L.
Buộc ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 phải trả lại trị giá diện tích đất bị lấn chiếm 63,0 m² đất tại thửa số 1403, tờ bản đồ số 21, địa chỉ xóm E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An cho ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L với số tiền 44.100.000đ (bốn mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng).
Tiếp tục giao cho ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 được quyền sử dụng 63,0 m² và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại một phần thửa 1403, tờ bản đồ số 21, địa chỉ xóm E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, có tứ cận: phía Bắc giáp thửa 1402; phía Tây giáp thửa 146; phía Đông giáp đường xóm; phía Nam giáp thửa 1403. Ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích được giao (có sơ đồ kèm theo).
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về chi phí thẩm định định giá, nghĩa vụ án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định .
Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngày 04/10/2023 Tòa án nhân dân huyện Đô Lương nhận được đơn kháng cáo của ông Nguyễn Tất H. Ông Nguyễn Tất H kháng cáo yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm số 49A/2023/DS-ST theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, nguyên đơn đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án đến khi xét xử, Thẩm phán được phân công đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục phiên tòa.
- Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 294 và Điều 196 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quyền tranh tụng của các đương sự được bảo đảm.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tất H, giữ nguyên bản án sơ thẩm
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Tất H làm trong thời hạn luật định, hình thức, nội dung đơn hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Vợ chồng ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 sử dụng thửa đất số 1402 tờ bản đồ số 24, diện tích 402,0 m² thuộc xóm E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, chiều dài giáp với thửa đất số 1403 tờ bản đồ số 24 của vợ chồng ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L là 24,62m và 11,76m
Cả hai thửa đất đều được SởNguyên và M trườngNghệ A cấp Giấynăm 2021 trong đó thửa đất số 1402 của vợ chồng ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 nhận chuyển nhượng từ thửa đất của ông L2 và bà Nguyễn Thị L (thửa đất cũ Ông T, bà L là thửa số 299, tờ bản đồ số 24 có diện tích 2063,0 m²) vào năm 2014.
Căn cứ vào kết quả biên bản thẩm định tại chỗ ngày 12/7/2023 của Hội đồng thẩm định trong tố tụng dân sự và kèm theo sơ đồ thẩm định tại chỗ đã đo đạc hiện trạng thực tế và dựa trên cơ sở mốc giới do các đương sự cung cấp đã xác định được:
Thửa đất 1402 có diện tích 402,2 m² chồng chéo ra đường 53,1m² ( đây là phần đất thừa ra ngoài đường do ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 xây dựng nhà ở và tường bờ rào ngăn cách sau khi chuyển nhượng); phần diện tích xây chồng sang thửa 1403 là 63,0 m²; phần diện tích hiện trạng sử dụng thửa số 1402 là 412,0 m².
Thửa số 1403 của ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L đo theo hiện trạng sử dụng có diện tích là 1651,3 m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DB 8626229 ngày 29/9 /2021 (cấp đổi), trong đó diện tích đất chồng chéo ra đường là 3,2 m², phần diện tích chồng sang thửa đất số 1402 cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 là 63,0 m² và phần diện tích theo theo hiện trạng là 1585,1 m².
Căn cứ vào kết quả đo đạc của Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện Đ đã xác định tọa độ phần đất thửa số 1403 của ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L chồng sang thửa đất số 1402 của ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 với diện tích 63,0 m 2 .
Nguyên nhân của việc chồng lấn: năm 2014 gia đình ông Nguyễn Tất H, bà Lưu Thị L1 đã tiến hành xây dựng nhà cửa và xác định mốc và ranh giới hai thửa đất chưa đúng so với ranh giới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Ông T và bà L yêu cầu ông H bà L1 trả lại giá trị bằng tiền của diện tích đất bị lấn chiếm 63,0 m² thuộc thửa đất 1403 của ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L. Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, cần được chấp nhận. Theo kết quả tại biên bản định giá tài sản ngày 12/7/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng dân sự: trị giá thửa đất số 1402 tờ bản đồ số 21 tại xóm E, xã Đ, huyện Đ tại thời điểm định giá là 281.400.000đ (theo đơn giá là 402 m² x 700.000đ/1m²). Do đó diện tích đất của gia đình ông T bị lấn chiếm là 63,0 m² x 700.000đ/1m² = 44.100.000₫ (Bốn mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng.
Bị đơn ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 cho rằng gia đình ông H không lấn chiếm đất của gia đình ông T vì trước đây gia đình ông H đã bỏ thêm số tiền mua đất là 30.000.000đ cho gia đình ông T để làm bìa đỏ. Căn cứ vào lời khai trình bày của các bên tại cấp sơ thẩm và các tài liệu đương sự cung cấp thì đây là số tiền đất thỏa thuận giữa hai gia đình ông T và ông H do diện tích gia đình ông H sau khi đo đạc lại diện tích đất nhận chuyển nhượng tăng so với giấy chuyển nhượng viết tay ban đầu thỏa thuận giữa hai gia đình là diện tích đất từ 350 m² nay diện tích tăng lên là 402,0 m². Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn không cung cấp thêm được tài liệu chứng cứ gì để chứng minh cho quan điểm của mình.
Từ những phân tích trên thấy rằng việc Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T và Nguyễn Thị L là đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tất H, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa là phù hợp.
Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 phải hoàn lại số tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản 6.000.000 đ (sáu triệu đồng) cho ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị L.
[3] Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo của ông Nguyễn Tất H không được chấp nhận nên phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí phúc thẩm .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tất H, giữ nguyên phần Quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 49A/2023/DS-ST ngày 26 tháng 09 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
Căn cứ vào khoản 3 Điều 155, Điều 164, Điều 166 của Bộ luật dânnăm 2015; Điều 166, Điều 203 của Luật đấtnăm 2013.
Căn cứ vào các Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165. Điều 166 của Bộ luật tốdân sự; Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L.
- Buộc ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 phải trả lại trị giá diện tích đất bị lấn chiếm 63,0 m² đất tại thửa số 1403, tờ bản đồ số 21, địa chỉ xóm E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An cho ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L với số tiền 44.100.000đ (bốn mươi bốn triệu một trăm nghìn đồng).
- Tiếp tục giao cho ôngTất Hậu và bà Lưu Thị L1 được quyền sử dụng 63,0 m² và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại một phần thửa 1403, tờ bản đồ số 21, địa chỉ xóm E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An, có tứ cận: phía Bắc giáp thửa 1402; phía Tây giáp thửa 146; phía Đôngđường xóm; phía Namthửa 1403. Ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 có trách nhiệm liên hệ với cơ quan Nhàcó thẩm quyền để làm thủ tục kê khai đăng ký cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất theo diện tích được giao
- Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 phải hoàn lại số tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) cho ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị L.
- Về án phí:
- - Về án phí sơ thẩm: Ông Nguyễn Tất H và bà Lưu Thị L1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
- Ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lê Văn T được trả lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số 0002972 ngày 13/6/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Đô Lương.
- - Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc Ông Nguyễn Tất H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) ông H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0003108 ngày 24/10/2023 của Chi cục thi hành án huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Mỹ Hải |
Bản án số 31/2024/DS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 31/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất Lê Văn T- Nguyễn Tất H
