TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày: 26 - 04 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Hoàn; bà Đoàn Thị Duyên.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST ngày 27 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024, đối với bị cáo:
Lều Vũ G; sinh ngày 10/6/1981; giới tính: Nam; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lều Vũ T và con bà Nguyễn Thị C; vợ là Hà Thị V (đã ly hôn), có 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Nguyễn Khắc C1, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Người làm chứng: Anh Vũ Mạnh T1, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn D, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 8/2023 bị cáo Lều Vũ G1 xem các video trên ứng dụng Tiktok thấy có một trang cá nhân đăng các video hướng dẫn về việc đầu tư tài chính liên quan đến Bitcoin và có nhận dạy đầu tư tài chính, bị cáo G1 tìm tại mục giới thiệu trang cá nhân có ghi dòng liên hệ qua telegram “phuocle123” nên bị cáo G1 đã tìm và kết bạn thành công với tài khoản này qua ứng dụng telegram. Qua quá trình nói chuyện, người này giới thiệu tên là P có kinh nghiệm đầu tư Bitcoin trên ứng dụng Binance nên bị cáo nhờ anh P dạy bị cáo đầu tư B và sẽ gửi tiền cảm ơn thì anh P đồng ý. Anh P hướng dẫn bị cáo G1 tải ứng dụng và tạo tài khoản cho bị cáo, khi bị cáo G1 hỏi anh P cách nạp tiền vào tài khoản để đầu tư thì anh P hướng dẫn nhưng bị cáo không thực hiện được. Anh P bảo bị cáo G1 chuyển tiền vào số tài khoản 1033649827 Ngân hàng TMCP N (V1), mang tên Le Tuan P1 rồi anh P sẽ nạp tiền vào tài khoản của bị cáo nhưng bị cáo chưa có tiền nên bị cáo chưa chuyển tiền đến số tài khoản này.
Buổi sáng ngày 16/10/2023, anh Nguyễn Khắc C1 gặp bị cáo G1 (là công nhân làm cùng với anh C1 tại Công ty TNHH M) để nhờ bị cáo tìm lại mật khẩu đăng nhập tài khoản ngân hàng tại ứng dụng V2 ipay của anh C1 trên điện thoại di động, bị cáo G1 đồng ý. Anh C1 lấy điện thoại di động nhẵn hiệu Samsung Galaxy A50, màu đen, loại màn hình cảm ứng và vẽ mật khẩu mở khóa màn hình điện thoại (lúc này bị cáo G1 đứng cạnh anh C1 nên nhìn thấy hình vẽ mật khẩu khóa màn hình điện thoại của anh C1). Khi điện thoại được mở, anh C1 đưa cho bị cáo, bị cáo cầm điện thoại di động của anh C1 vào ứng dụng để tìm lại mật khẩu cho anh C1, sau đó bị cáo đổi mật khẩu đăng nhập ứng dụng V2 ipay là “Canh1975” và thông báo mật khẩu cho anh C1 biết rồi đưa lại điện thoại cho anh C1.
Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, do bị cáo đang cần tiền để chuyển vào tài khoản của Lê Tuấn P2 và biết ngày 13/10/2023 Công ty đã trả lương cho các công nhân, cũng như biết được mật khẩu mở khóa màn hình điện thoại, mật khẩu đăng nhập ứng dụng V2 ipay của anh C1 nên bị cáo nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng của anh C1 để nạp tiền vào tài khoản Bitcoin. Bị cáo đến gặp anh C1 tại khu vực làm việc, bị cáo nói anh C1 là mượn điện thoại di động của anh C1 đề thử chân sạc cục sạc điện thoại, anh C1 không nghi ngờ gì và đồng ý, bị cáo lấy điện thoại di động của anh C1 ở giỏ để hàng cạnh anh C1 và đi đến khu vực vệ sinh của Công ty, khi đến cửa ra vào bị cáo G1 giả vờ cắm sạc điện thoại di động và quan sát thấy anh C1 không đi theo nên bị cáo đi tiếp đến khu vực trước cửa phòng vệ sinh nam của công ty. Tại đây quan sát không có ai, bị cáo cầm điện thoại di động của anh C1, vẽ mở khóa màn hình điện thoại di động của anh C1 và vào ứng dụng V2 ipay rồi đăng nhập, sau khi đăng nhập thành công vào ứng dụng V2, bị cáo G1 kiểm tra số dư tài khoản 106878923055, ngân hàng V2 của anh C1, thấy còn số tiền 5.600.000đ (năm triệu sáu trăm nghìn đồng), bị cáo tiếp tục vào mục chuyển khoản để chuyển số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến số tài khoản 1033649827 Ngân hàng TMCP N (V1), mang tên Lê Tuấn P2 (Le Tuan P1), thì tổng đài ngân hàng V2 gửi tin nhắn có chứa mã OTP đến điện thoại di động của anh C1, bị cáo nhập mã OTP vào ứng dụng V2 ipay để hoàn tất việc chuyển tiền. Sau khi giao dịch chuyển khoản thành công, bị cáo thoát ứng dụng V2 ipay trên điện thoại di động của anh C1, đồng thời vào mục tin nhắn để xóa mục tin nhắn mà tổng đài V2 vừa gửi mã OTP, rồi bị cáo khóa màn hình điện thoại của anh C1 lại và đi đến chỗ anh C1 để trả lại chiếc điện thoại cho anh C1. Sau đó, bị cáo G1 liên lạc với tài khoản Telegram tự xưng là Lê Tuấn P2 để thông báo về việc đã chuyển khoản cho số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) để nạp tiền vào tài khoản đầu tư Bitcoin của bị cáo. Đến ngày 22/10/2023 anh C1 phát hiện bị mất số tiền 5.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng, sau khi kiểm tra lịch sử giao dịch thì anh C1 xác định thời điểm mất tiền là thời điểm bị cáo G1 mượn điện thoại. Sau đó, anh C1 gửi đơn trình báo đến Công an xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình để giải quyết.
Cáo trạng số 26/CT-VKSKX ngày 27/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương truy tố bị cáo Lều Vũ G1 về tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo điểm c Khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lều Vũ G1 phạm tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c Khoản 1, Khoản 5 Điều 290; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lều Vũ G1 mức án từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Thái Bình và của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến xương, tỉnh Thái Bình và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Lều Vũ G1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bởi các chứng cứ khác như: Đơn trình báo, lời khai của bị hại là anh Nguyễn Khắc C1 (bút lục số 04; từ số 89 đến số I); công văn cung cấp thông tin, sao kê giao dịch của Ngân hàng TMCP C2 - Chi nhánh T4 (bút lục từ số 20 đến số 21; số F); thông tin điện thoại di động của anh Nguyễn Khắc C1 (bút lục số 96); lời khai của người làm chứng là anh Vũ Mạnh T1 (bút lục số 85 đến số H). Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội, loại tài sản bị cáo đã chiếm đoạt. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 16 phút ngày 16/10/2023, tại Công ty TNHH M, địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình, bị cáo Lều Vũ G1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A50 màu đen, loại màn hình cảm ứng của anh Nguyễn Khắc C1 truy cập bất hợp pháp vào tài khoản ngân hàng của anh C1 trên ứng dụng V2 ipay rồi chuyển số tiền 5.000.000 đồng từ tài khoản 106878923055 V2 của anh C1 đến số tài khoản 1033649827 V1 mang tên Lê Tuấn P2, để chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng của anh C1.
[3] Vì vậy, bị cáo Lều Vũ G1 đã phạm tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 290 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 290 Bộ luật Hình sự: Tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định: “1. Người nào sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử thực hiện một trong những hành vi sau đây, nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 173 và Điều 174 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a)...; c) Truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cơ quan, tổ chức, cá nhân nhằm chiếm đoạt tài sản;...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”
[4] Xét tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi truy cập bất hợp pháp vào tài khoản ngân hàng cá nhân của anh C1 để chiếm đoạt số tiền 5.000.000 đồng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm.
[5] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Lều Vũ G1 không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Khắc C1 số tiền 5.000.000 đồng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Bị cáo G1 là công nhân, có thu nhập ổn định nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại là anh Nguyễn Khắc C1 số tiền 5.000.000 đồng, anh C1 đã nhận đủ tiền không có đề nghị, yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.
[7] Đối với anh Lê Tuấn P2, quá trình điều tra xác định anh P2 không quen biết bị cáo Lều Vũ G1, không hợp tác kinh doanh với bị cáo G1, không sử dụng T2 để liên lạc với bị cáo G1. Số tài khoản 1033649827 V1 mang tên Lê Tuấn P2 được anh P2 đăng ký vào năm 2023 nhưng không sử dụng và cho tài khoản ngân hàng cho một người đàn ông không rõ lai lịch. Anh P2 không đầu tư tiền ảo Bitcoin, không biết giao dịch chuyển tiền với bị cáo G1. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
[8] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm c Khoản 1, Khoản 5 Điều 290; điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 3 Điều 35; Điều 38; Điều 50; Điều 65 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lều Vũ G1 phạm tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lều Vũ G1 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/4/2024.
Giao bị cáo Lều Vũ G1 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
- Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Bị cáo Lều Vũ G1 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 26/4/2024. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự về tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lều Vũ G
