Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ – ST

Ngày 20 tháng 8 năm 2024.

“V/v Ly hôn,tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Duy Chiến.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. 1. Bà Hoa Thị Vân;
  2. 2. Bà Vũ Thị Nhung;

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hồng Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 52/2024/TLST - HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 về: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 30/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09/8/2024; giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Sầm Thị K, sinh ngày 05/01/2000;

Địa chỉ: thôn P, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai.

Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Hoàng A S, sinh ngày 14/12/1986.

Địa chỉ: Tổ 13, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện nộp Tòa án ngày 24/5/2024 và trong quá trình Tòa án giải quyết, nguyên đơn chị Sầm Thị K trình bày:

Chị và anh Hoàng A S kết hôn có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, tỉnh Lào Cai theo giấy chứng nhận kết hôn số 58, ngày 08/11/2018.

Sau ngày cưới anh, chị sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm không thống nhất trong việc làm ăn kinh tế và việc nuôi dạy con, từ đó vợ chồng hay cãi chửi nhau. Thực tế vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 5/2020 mỗi người một nơi, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng hơn, chị đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hoàng A S.

Về con: Trong thời gian chung sống vợ chồng sinh được 01 cháu, cháu tên là Hoàng Quốc Khh, sinh ngày 22/3/2019. Khi ly hôn chị để anh Hoàng A S nuôi dưỡng cháu Hoàng Quốc Kh đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung do hiện tại chị không có thu nhập ổn định vì vậy chị không cấp dưỡng, khi nào có điều kiện chị sẽ cấp dưỡng sau.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị và anh Hoàng A S không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 25/6/2024 bị đơn anh Hoàng A S trình bày:

Anh và chị Sầm Thị K kết hôn với nhau có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai vào ngày 08/11/2018.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2019 thì chị Sầm Thị K nói là đi làm để kiếm tiền phụ giúp gia đình và chị không về nhà từ thời gian đó, cũng không liên lạc về nhà, vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn gì, nay chị Ken viết đơn ly hôn anh đồng ý.

Về con anh xác nhận vợ chồng sinh được một con đúng như chị Ken trình bày, khi ly hôn anh đồng ý nuôi cháu Hoàng Quốc Khánh đúng như ý chị Ken đã đề xuất.

Anh không yêu cầu chị Ken cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng không nợ ai và không cho ai vay, vì vậy anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị Ken có đơn đề nghị Tòa án không hòa giải, vì vậy vụ án này không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà:

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bát Xát có quan điểm: Thẩm phán, hội đồng xét xử giải quyết vụ án dân sự tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, đảm bảo việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật, thu thập chứng cứ đúng theo qui định pháp luật. Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Đều 57; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết:

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Sầm Thị K được ly hôn anh Hoàng A S.

Về con chung: Giao cháu Hoàng Quốc Kh, sinh ngày 22/3/2019 cho anh Hoàng A S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Hoàng A S không yêu cầu chị Sầm Thị K cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về án phí: Chị Sầm Thị K phải chịu án phí theo qui định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Hoàng A S có địa chỉ tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Như vậy Tòa án nhân dân huyện Bát Xát thụ lý vụ án là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Sầm Thị K có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Hoàng A S vắng mặt lần hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Sầm Thị K và anh Hoàng A S.

[2] Chị Sầm Thị K và anh Hoàng A S kết hôn với nhau có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Bản Qua, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai theo giấy chứng nhận kết hôn số 58, ngày 08/11/2018 trên cơ sở tự nguyện, như vậy hôn nhân này là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ và công nhận.

[3] Xét đối với yêu cầu của nguyên đơn:

Theo nguyên đơn trình bày thì chị và anh Hoàng A S, sau khi kết hôn, chung sống với nhau được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp, quan điểm không thống nhất trong làm ăn và nuôi dạy con. Anh Hoàng A S cho rằng vợ chồng sống với nhau được một năm thì chị Ken nói đi làm ăn để kiếm tiền phụ giúp gia đình nhưng sau đó chị bỏ đi luôn, anh không liên lạc được. Như vậy hôn nhân giữa chị Ken và anh Su có phát sinh mâu thuẫn, nay chị Ken xin ly hôn, anh Su đồng ý. Do Tòa án không tiến hành hòa giải được, vì vậy không công nhận sự thỏa thuận của anh, chị được mà xử cho chị Sầm Thị K được ly hôn anh Hoàng A S là phù hợp với khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[4] Về con: Anh, chị sinh được 01 cháu, cháu tên là Hoàng Quốc Khánh, sinh ngày 22/3/2019. Khi ly hôn chị nhường quyền nuôi con cho anh Hoàng A S.

Xét thấy anh Hoàng A S cũng có nguyện vọng được nuôi cháu, cháu Hoàng Quốc Khánh cũng đã trên 3 tuổi, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh, chị giao con cho anh Su nuôi dưỡng đến khi trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[5] Về tiền cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Hoàng A S không yêu cầu chị Sầm Thị K cấp dưỡng tiền nuôi con chung, vì vậy Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chị Sầm Thị K phải chịu án phí Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 1 Điều 57; Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Xử cho chị Sầm Thị K được ly hôn anh Hoàng A S. Quan hệ hôn nhân của chị Sầm Thị K và anh Hoàng A S chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về con: Anh Hoàng A S trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Quốc Khánh, sinh ngày 22/3/2019 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

    Anh Hoàng A S không yêu cầu chị Sầm Thị K cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị Sầm Thị K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  3. Về án phí: Chị Sầm Thị K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai theo biên lai số 0000661 ngày 31 tháng 5 năm 2024.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TA tỉnh;
  • - VKSND H. Bát Xát (2);
  • - Đương sự (2);
  • - UBND xã Bản Qua;
  • - THA DS;
  • - Lưu TA,VP, HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Duy Chiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ – ST ngày 20/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sầm Thị K ly hôn anh Hoàng A S
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger