|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày 20-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Hữu Bình;
- - Ông Đoàn Văn Nam.
- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện - Kiểm sát viên.
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Trần Thị T - Kế toán Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1986 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn A, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1959 và bà Đặng Thị S, sinh năm 1963; có vợ là Vũ Thị Thanh L (đã chết) và hai con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2018; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 22 tháng 02 năm 2024 đến ngày 01 tháng 3 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
2. Nguyễn Văn L1, sinh ngày 07 tháng 01 năm 1987 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn 1, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1954; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 22 tháng 02 năm 2024 đến ngày 01 tháng 3 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo H: Bà Nguyễn Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Vũ Văn Q; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có quen biết từ trước và cùng là bạn nghiện ma túy nên khoảng 08 giờ ngày 22-02-2024, Nguyễn Văn L1 điều khiển xe mô tô Jupiter màu đỏ biển kiểm soát (BKS) 15G1-226.64 sang nhà Nguyễn Văn H chơi. Trong quá trình nói chuyện, H rủ L1 đi mua ma túy về để sử dụng; L1 đồng ý và đưa cho H 90.000 đồng và H bỏ ra 400.000 đồng; sau đó L1 điều khiển xe mô tô chở H đi mua ma túy. Khi đi đến khu vực nhà máy N xã K, huyện T, H gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 490.000 đồng ma túy loại Heroine, người này đồng ý bán cho H 01 túi nilon màu trắng bên trong có năm gói giấy chứa chất bột màu trắng loại Heroine. Mua được ma túy, H cầm ở trong lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô chở L1 đi được khoảng 50m thì bị tổ công tác Công an huyện T kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ trong lòng bàn tay trái của H 01 túi nilon màu trắng viền mép màu cam kích thước 6,5 x 05cm, bên trong có 05 gói giấy màu trắng cùng kích thước 1,8 x 0,7cm đều chứa chất bột màu trắng và 01 xe mô tô BKS 15G1-226.64.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn L1, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Bản Kết luận giám định số 199/KL-KTHS ngày 27-02-2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,31 gam, loại Heroine".
Kết quả xét nghiệm của Cơ sở điều trị Methadone Tiên L2, kết luận: Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn L1 đều dương tính với ma túy, loại Heroine.
Phiếu trả lời xác minh phương tiện xe cơ giới đường bộ của Công an huyện T và kết luận số 528/KL-KTHS ngày 04-3-2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 15G1-226.64, mang tên anh Phạm Thành T2, sinh năm 1983, ở xóm A, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng có số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự”.
Anh Phạm Thành T2 trình bày: Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, BKS: 15G1-226.64 anh mua năm 2013, do không có nhu cầu sử dụng nên khoảng tháng 8-2018, anh bán cho một người đàn ông tên là L1 ở huyện V, thành phố Hải Phòng.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 xe mô tô BKS 15G1-226.64 và 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật còn lại sau giám định đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải phòng.
Bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 25-4-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố các bị cáo H và L1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và trình bày: Số ma túy Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là của các bị cáo mua để sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác; số tiền L1 bỏ ra 90.000 đồng và H bỏ ra 400.000 đồng để mua ma túy là do các bị cáo lao động mà có; xe mô tô BKS 15G1-226.64 là tài sản hợp pháp của L1 mua lại của anh Phạm Thành T2 nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng như hành vi đã thực hiện; khối lượng, loại ma túy đúng như Kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H; vật chứng của vụ án bị Công an huyện T thu giữ đúng như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Người làm chứng vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa.
Kiểm sát viên khẳng định Cáo trạng số 29/CT-VKS ngày 23-4-2024 truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn L1 mức án từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA BKS 15G1-226.64; tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư còn nguyên niêm phong số 199/KL-KTHS của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định.
- - Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H; bị cáo L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo H: Nhất trí với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, vợ chết và đang phải nuôi hai con nhỏ để cho bị cáo được hưởng mức án khoan hồng, có cơ hội được sửa chữa sai lầm, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về người tham gia tố tụng: Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tuy nhiên, người vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng.
- Về tội danh và hình phạt:
- Lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn L1 tại phiên toà phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng; biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 09 giờ 30 phút ngày 22-02-2024, tại thôn A, xã K, huyện T; tổ công tác Công an huyện T, thành phố Hải Phòng bắt quả tang các bị cáo có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý, thu giữ tại lòng bàn tay trái của H chất ma tuý có khối lượng theo Kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H là 0,31 gam ma túy, loại Heroine.
- Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích sử dụng.
Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
- Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới đảm bảo giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
- Về vai trò: Trong vụ án này, các bị cáo cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự nhưng là đồng phạm giản đơn; không có sự câu kết chặt chẽ, phân công, phân nhiệm cụ thể. Bị cáo H là người khởi xướng, góp 400.000 đồng và cùng với L1 đi mua ma tuý; bị cáo L1 góp 90.000 đồng và điều khiển xe mô tô của mình chở H đi mua ma tuý về đề cùng nhau sử dụng. Như vậy, vai trò của hai bị cáo là ngang nhau.
- Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Xét các căn cứ quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử cho rằng cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo ở mức thấp nhất theo mức án mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với các bị cáo là thỏa đáng.
- Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, tài liệu xác minh thể hiện các bị cáo không có nghề nghiệp, là người nghiện ma tuý, không có tài sản, gia đình bị cáo H thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter BKS 15G1-226.64: Đây là tài sản hợp pháp của bị cáo L1 dùng để đi mua chất ma tuý nên là phương tiện phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với 01 bì thư còn nguyên niêm phong số 199/KL-KTHS của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (bên trong có 0,19 gam chất bột và vỏ bao gói của mẫu vật): Là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo H thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí; bị cáo L1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn L1 đồng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Nguyễn Văn H 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 02 năm 2024.
Nguyễn Văn L1 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22 tháng 02 năm 2024.
Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn L1.
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Jupiter màu đỏ BKS 15G1-226.64 đã qua sử dụng yếm vỡ đã được dán băng dính, sơn bong chóc.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư còn nguyên niêm phong số 199/KL-KTHS ngày 27-02-2024 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (bên trong có 0,19 gam Heroine và vỏ bao gói của mẫu vật).
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn H; buộc bị cáo Nguyễn Văn L1 phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn L1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
