Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ SÊ

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 31/2024/HSST

Ngày: 19 - 7 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hiếu

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Siu Tơ Lul.

Bà Đinh Thị Tuyết Dung.

- Thư ký phiên tòa : Bà Lê Thanh Hường, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Băng – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST – HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn T (tên gọi khác không),

sinh ngày 25 tháng 8 năm 1983, tại huyện L, tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: thôn P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N (đã chết) và bà Ngô Thị K; có vợ Phùng Thị N1 (không đăng ký kết hôn) và 01 con; tiền án: không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 14/02/2015 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Trưởng Công an phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0002539 ngày 12/3/2015 phạt số tiền 750.000 đồng, Phạm Văn T đã đóng phạt xong số tiền trên vào ngày 20/5/2015, đã được xoá tiền sự; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/02/2024 đến ngày 01/03/2024; tạm giam từ ngày 01/03/2024 cho đến nay; SỐ CCCD [...]; có mặt.

- Bị hại: Ông Lê Gia M, sinh năm 1971; Địa chỉ: Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, có mặt

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Phạm Văn K1, sinh năm 1981; Địa chỉ: Thôn P, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai, có mặt

+ Bà Mai Thị K2, sinh năm 19701; Địa chỉ: Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, có mặt

+ Ông Lê Xuân P, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn G, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 18/02/2024, Phạm Văn T đi bộ đến nhà rẫy của ông Lê Gia M tại thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai để xin ngủ lại. T lấy trong người ra một còng số 8 cho ông M xem và nói với ông Mão T1 là công an huyện C đang điều tra, bắt tội phạm ở gần khu vực này thì ông M đồng ý cho T1 ngủ lại nhà rẫy. Đến 08 giờ sáng ngày 20/02/2024, Phạm Văn T đến nhà chính của ông M tại làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai nói với ông M cho T mượn xe mô tô BKS 81P1-016.85, 01 điện thoại di động Redmi loại 10A màu ghi nhạt và số tiền 1.200.000đ (Một triệu hai trăm ngàn đồng) với mục đích để đi làm nhiệm vụ. Khi làm nhiệm vụ xong T sẽ về trả lại cho ông M. Sau khi nhận được tài sản của ông M thì T đã bỏ trốn về xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Đến ngày 21/02/2024 ông M đã liên lạc với T để yêu cầu T trả lại tài sản cho mình nhưng không liên lạc được. Nghi ngờ T đã lừa mình nên ông M đã đến Công an xã I để trình báo sự việc. Sau khi tiếp nhận tin báo Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành truy xét đối tượng và xác định đối tượng chiếm đoạt tài sản của ông Lê Gia M là Phạm Văn T đang trốn tại xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã phối hợp với Công an xã I bắt giữ đối tượng Phạm Văn T và thu giữ 01(một) xe mô tô BKS 81P1–016.85; 01 (một) điện thoại di động Redmi loại 10A màu ghi nhạt, 01 vòng kim loại dạng vòng số 8.

Ngày 21/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra yêu cầu định giá tài sản số 116 trưng cầu hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C định giá đối với: 01(một) xe mô tô BKS 81P1 – 016.85, 01 (một) điện thoại di động Redmi loại 10A màu ghi nhạt.

Ngày 26/02/2024, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C đã ra kết luận định giá tài sản số: 09, kết luận:

01(một) xe mô tô BKS 81P1 – 016.85, đã qua sử dụng, mua và sử dụng từ năm 2011, có giá trị là 4.500.000₫ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

- 01 (một) điện thoại di động Redmi loại 10A màu ghi, đã qua sử dụng, mua và sử dụng từ tháng 10/2023, có giá trị là 1.633.000đ (Một triệu sáu trăm ba mươi ba nghìn đồng).

Ngày 25/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 307 trưng cầu Phòng KTHS Công an tỉnh G đối với 01 còng số 8 đã thu giữ của Phạm Văn T. có phải là công cụ hỗ trợ không.

- Ngày 06/05/2024, Phòng KTHS Công an tỉnh G đã có bản kết luận số: 460/KL-KTHS kết luận 01 còng số 8 thu giữ của Phạm Văn T là công cụ hỗ trợ.

Theo bản cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 05/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng Khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:

Bị cáo Phạm Văn T từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.

Về phần dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn xét; về vật chứng và án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật; về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng khác:

-Ý kiến của người bị hại Lê Gia M tại phiên tòa:

Ngày 06/03/2024 anh Phạm Văn K1 là anh trai của Phạm Văn T đã đền bù số tiền 1.200.000 đồng cho ông. Ông đã nhận số tiền bồi thường thiệt hại và nhận lại tài sản. Do đó, ông không yêu cầu Phạm Văn T phải bồi thường gì thêm về dân sự. Ông xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

-Ý kiến của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa: Họ nhất trí với ý kiến của họ đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C. Tại phiên tòa, họ không có ý kiến và yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo, bị hại, người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa và các tại liệu, chứng cứ khác thể hiện:

Vào khoảng 08 giờ, ngày 20/02/2024, tại Làng T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, Phạm Văn T đã có hành vi gian dối tự xưng là Công an huyện C đang điều tra, bắt tội phạm ở gần khu vực này nhằm mục đích để chiếm đoạt tài sản của ông Lê Gia M gồm: 01 xe mô tô BKS BKS 81P1-01685 có trị giá 4.500.000 đồng; 01 điện thoại Redmi 10A màu ghi nhạt có trị giá 1.633.000 đồng và số tiền 1.200.000 đồng, tổng trị giá là 7.333.000 đồng.

Vì vậy, bị cáo đã phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê truy tố.

[3] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại khắc khục hậu quả cho người bị hại và được bị hại viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi lượng hình cho bị cáo được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về nhân thân: Ngày 14/02/2015 T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Trưởng Công an phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0002539 ngày 12/3/2015 phạt số tiền 750.000 đồng, Phạm Văn T đã đóng phạt xong số tiền trên vào ngày 20/5/2015, đã được xoá tiền sự. Như vậy, T có nhân thân xấu.

[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép còng số 8 là công cụ hỗ trợ của Phạm Văn T, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã đề xuất Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện C xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Văn T về hành vi tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ quy định tại điểm a, khoản 4, điều 11 Nghị định 144NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Ngày 15/5/2024 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C đã ra quyết định xử phạt hành chính số: 15/QĐ-XPHC đối với Phạm Văn T bằng hình thức phạt tiền 15.000.000 đồng là có cơ sở. Hiện bị cáo T chưa nộp phạt. Do đó, Hội đồng xét xử không đề cập.

[7] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :

Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T từ 01 năm tù đến 01 năm 06 tháng tù.

[8] Hội đồng xét xử xét thấy, quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, cần xem xét.

Từ nhận định ở trên, Hội đồng xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường pháp luật, chỉ vì lười biếng lao động, nhưng lại muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng nên bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu tài sản của công dân được nhà nước và pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất trật tự trị an ở địa phương, làm cho quần chúng nhân dân hết sức bất bình. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức tù tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà bị hại và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì về phần dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử miễn xét. Số tiền anh K1 bồi thường thay cho bị cáo, nếu sau này không thoả thuận được, có yêu cầu Toà án sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

[10] Về vật chứng, xét:

- Đối với 01(một) xe mô tô BKS 81P1 – 016.85, 01 (một) điện thoại di động Redmi loại 10A, đã qua sử dụng, quá trình điều tra, xác minh xác định là tài sản hợp pháp của ông Lê Gia M. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả tài sản trên cho ông Lê Gia M. Ông M đã nhận lại tài sản, là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử không đề cập.

- Đổi với 01 vòng kim loại màu trắng dạng vòng số 8 có chiều dài 22 cm, trên thân có ký hiệu E 16 –BCA, KC-2005, hai vòng kim loại được nối với nhau bởi 01 sợi xích kim loại dài 05 cm là vật chứng của vụ án không có giá trị, cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[11] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có tài sản, nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 174 của Bộ luật hình sự là phù hợp.

[12] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

[13] Về kiến nghị: Không.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T (tên gọi khác: Không) phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    -Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt:

    Bị cáo Phạm Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 21/02/2024.

  2. Về vật chứng:

    - Áp dụng khoản 1 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) vòng kim loại màu trắng dạng vòng số 8 có chiều dài 22 cm, trên thân có ký hiệu E 16 –BCA, KC-2005, hai vòng kim loại được nối với nhau bởi 01 sợi xích kim loại dài 05 cm (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Sê ngày 06/6/2024).

  3. Về hình phạt bổ sung:

    - Áp dụng khoản 5 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Phạt bị cáo Phạm Văn T 10.000.000 đ (mười triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:

    Buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

  5. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình lên Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm; những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • -Bị cáo;
  • -Bị hại;
  • -NCQLNVLQ;
  • -VKSND huyện Chư Sê;
  • -CA huyện Chư Sê;
  • -THAHS;
  • -CC.THADS huyện Chư Sê;
  • -TAND tỉnh Gia Lai;
  • -Sở Tư pháp Gia Lai;
  • -Lưu hồ sơ; Lưu án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HSST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 31/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ SÊ, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger