|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐĂK LĂK |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:31/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 19 - 4 - 2024.
V/v kiện ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Năng Quân
Các hội thẩm nhân dân gồm có:
- Ông Lưu Văn Toan.
- Ông Ksor Y Nai.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Công Đức - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Văn Hai - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2024/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 01 năm 2024 về việc “Kiện ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXX-ST, ngày 14 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị H’Ŭin N; Địa chỉ: Buôn D, xã Ea T, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nông Ngọc T; Địa chỉ: Buôn Ea T, xã Ea T, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 16 tháng 12 năm 2024 và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn trình bày:
Về hôn nhân: Chị H'Ŭin N và anh Nông Ngọc T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea Tir, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2023. Hôn nhân giữa chị H'Ŭin N và anh Nông Ngọc T được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chúng tôi chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Nông Ngọc T thường xuyên chửi mắng, xúc phạm tới gia đình chị H'Ŭin N dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Mặc dù, mâu thuẫn giữa chúng tôi đã được hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả, hiện nay chúng tôi đã sống ly thân. Nay vợ chồng không hạnh phúc, nên chị H’Ŭin N yêu cầu Toà án giải quyết cho chị H'Uin N được ly hôn với anh Nông Ngọc T.
Về con chung: Chị H’Ŭin N và anh Nông Ngọc T có 01 con chung là cháu Nông Ngọc Tuấn A, sinh ngày 02/10/2023 hiện con chung đang ở với chị H’Ŭin N. Nay ly hôn chị H'Uin N có nguyện vọng được chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung khi cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng: Chị H'Ŭin N không yêu cầu giải quyết.
Về chia tài sản: Chị H’Ŭin N không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Luật hôn nhân và Gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H'Ŭin Niê.
Về hôn nhân: Cho chị H'Ŭin N được ly hôn với anh Nông Ngọc T.
Về nuôi con chung: Giao cháu Nông Ngọc Tuấn A, sinh ngày 02/10/2023 cho chị H'Ũin N trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng: Chị H'Ŭin N không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét không xem xét.
Về chia tài sản: Chị H'Ŭin N không yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn chị H’Ŭin N là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật: Chị H'Ŭin N và anh Nông Ngọc T chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ea Tir, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 08 tháng 3 năm 2023. Nay chị H'Ŭin N yêu cầu được ly hôn với anh Nông Ngọc T. Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Kiện ly hôn” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết: Chị H'Ŭin N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Nông Ngọc T. Anh Nông Ngọc T, cư trú tại Buôn Ea T, xã Ea T, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Ea H'Leo thụ lý và giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị H'Ŭin N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bị đơn anh Nông Ngọc T đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về nội dung:
[3.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị H'Ŭin N và anh Nông Ngọc T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 3 năm 2023 tại UBND xã Ea Tir, huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk. Do đó, hôn nhân giữa chị H’Ŭin N và anh Nông Ngọc T là hôn nhân hợp pháp.
Theo nguyên đơn trình bày: Trong quá trình chung sống hai bên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh Nông Ngọc T thường xuyên chửi, xúc phạm đến gia đình của chị H'Ŭin N và có hành vi bạo lực đối với nguyên đơn dẫn đến cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và không hạnh phúc. Do không thể sống chung với nhau được nữa nên vợ chồng đã sống ly thân. Từ khi sống ly thân cho đến nay vợ chồng không ai quan tâm, chăm sóc tới nhau, điều đó chứng tỏ anh Nông Ngọc T không mong muốn tìm giải pháp để hàn gắn tình trạng mâu thuẫn của vợ chồng. Mặt khác, tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân giữa các đương sự tại địa phương đã xác định các đương sự đã sống ly thân với nhau được một thời gian dài, mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhưng không có kết quả. Vì vậy, xét thấy mâu thuẫn giữa giữa hai bên đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cho chị H'Ŭin N được ly hôn với anh Nông Ngọc T.
[3.2]. Về nuôi con chung: Chị H'Ŭin N và anh Nông Ngọc T có 01 người con chung là cháu Nông Ngọc Tuấn A, sinh ngày 02/10/2023. Từ trước đến nay con chung đều do chị H'Ŭin N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét chị H'Ŭin N có nguyện vọng được nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Do đó, để tạo điều kiện tốt nhất cho con chung được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, nên cần giao con chung là cháu Nông Ngọc Tuấn A cho chị H'Ŭin N được trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.
[3.3]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H'Ŭin N không yêu cầu anh Nông Ngọc T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, nên không xem xét.
[3.4]. Về chia tài sản: Chị H'Ŭin N không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.
[4]. Về án phí: Nguyên đơn chị H'Ŭin N là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị H'Ŭin N.
- Về hôn nhân: Cho chị H'Ŭin N được ly hôn với anh Nông Ngọc T.
- Về nuôi con chung: Giao cháu Nông Ngọc Tuấn A, sinh ngày 02/10/2023 cho chị H'Ŭin Niê trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng khi con chung trưởng thành, đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị H'Ŭin N không yêu cầu nên không xem xét.
Anh Nông Ngọc T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.
- Về chia tài sản: Chị H'Ŭin N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí: Chị H'Ŭin N là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
- Về quyền kháng cáo: Áp dung Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Năng Quân |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK về kiện ly hôn
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H’Ŭin N
