|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 31/2024/DS-ST Ngày: 18-9-2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thanh Yên và bà Nguyễn Thị Liên.
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Tài Thị Cao Sâm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 95/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng "theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 33/2024/QĐST-DS ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V, chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trượng Xuân V1, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N, CN huyện N. Ông Trượng Xuân V1 uỷ quyền lại cho ông Nguyễn Hoàng Đ – Trưởng phòng khách hàng A – Chi nhánh huyện N.
Bị đơn: Ông Bùi Xuân M, sinh năm 1978, bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1979,
địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Bùi Xuân M2, sinh năm 1999, địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
- Anh Bùi Xuân M3, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
- Chị Bùi Thị Xuân M4, sinh năm 2004, địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Đ trình bày: Ngày 20/3/2018, Ngân hàng N (gọi tắt Ngân hàng A) chi nhánh huyện N với vợ chồng ông Bùi Xuân M có ký hợp đồng tín dụng (hợp đồng vay) số [...]. Theo nội dung hợp đồng vay, Ngân hàng A đã cho vợ chồng ông Bùi Xuân M vay số tiền 410.000.000₫ (bốn trăm mười triệu đồng), thời hạn vay là 10 tháng, lãi suất vay là 7,0%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay, mục đích vay để nuôi ốc Hương. Ngân hàng A đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho vợ chồng ông Bùi Xuân M. Tại thời điểm vay, Ngân hàng đã giải ngân cho vợ chồng ông Bùi Xuân M theo hình thức vay là vay không có bảo đảm bằng tài sản (tức là vay tín chấp). Đến ngày 02/8/2022 giữa Ngân hàng với vợ chồng ông M đã ký hợp đồng thế chấp tài sản số [...]/HĐTC để đảm bảo cho khoản vay nêu trên. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 5a tờ bản đồ số 27b tại thôn V, xã P. Quá trình vay tiền tại ngân hàng, vợ chồng ông Bùi Xuân M đã trả lãi và gốc cho Ngân hàng. Tuy nhiên từ ngày 26/11/2019 đến nay, vợ chồng ông M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, vì vậy, ông đại diện cho Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
- - Yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Bùi X phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 18/9/2024 là 531.848.986 đồng, trong đó, nợ gốc 403.000.000 đồng, nợ lãi là 128.848.986 đồng.
- - Yêu cầu Tòa án tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp số [...]/HĐTC ngày 20/3/2018 để đảm bảo thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
Bị đơn ông Bùi Xuân M trình bày: Tại biên bản lấy lời khai (BL 77), ông M Thống nhất với nội dung trình bày của Ngân hàng, không có ý kiến, ông thống nhất và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, cụ thể, tôi đồng ý trả toàn bộ số tiền còn nợ theo yêu cầu của Ngân hàng A và đồng ý tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số [...]/HĐTC ngày 02/8/2018 để đảm bảo thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
Tại biên bản làm việc (BL 75), bà Nguyễn Thị M1 trình bày: Bà với ông Bùi Xuân M là vợ chồng, quá trình ông M vay tiền tại Ngân hàng A ông M không cho bà biết, lúc này ông M chỉ vay tín chấp, chưa thế chấp tài sản, lúc vay tiền chỉ có mình ông M đứng tên, bà không biết gì hết. Đến khoảng năm 2022 khi ông M không có khả năng trả nợ thì Ngân hàng với ông M có làm việc với nhau thì bà không biết nhưng sau đó Ngân hàng có tới nha bà và yêu cầu bà và các con ký vào hợp đồng thế chấp tài sản là nhà và đất để bảo đảm khoản vay cho ông Bùi Xuân M. Bà xác nhận bà và các con có ký vào hợp đồng thế chấp đối với thửa đất số 5a tờ bản đồ số 27b diện tích 140m² và tài sản gắn liền trên đất. Bà đồng ý trả tiền cho Ngân hàng cùng với ông M đối với số tiền nợ gốc 410.000.000 đồng, nhưng bà sẽ trả dần theo tháng tùy theo thu nhập hàng tháng, còn đối với số tiền lãi, bà yêu cầu Ngân hàng miễn lãi cho bà và ông M.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các anh, chị Bùi Xuân M2, Bùi Xuân M3 và Bùi Thị Xuân M4 trình bày: Các anh, chị là con là của ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1. Các anh chị có biết được việc cha mẹ vay tiền tại Ngân hàng A và hiện nay đang được ngân hàng khởi kiện về việc yêu cầu trả nợ. Các anh chị thống nhất và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng vì trước đây các anh chị có ký vào hợp đồng thế chấp. Các anh chị đồng ý với ý kiến của ông M, bà M1 và không có ý kiến gì. Các anh chị đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng; bị đơn không thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi của nguyên đơn Ngân hàng A, buộc vợ chồng ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 trả cho Ngân hàng A số tiền cả gốc và lãi tính đến ngày 18/9/2024 là 531.848.968 đồng. Buộc ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng A kể từ ngày 19/9/2024 trên tổng số dư nợ gốc. Tiếp tục duy trì các hợp đồng thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ. Về chi phí tố tụng và án phí giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng N (gọi tắt Ngân hàng A) khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải trả số tiền nợ gốc và tiền lãi được ký kết giữa Ngân hàng A với ông M, bà M1 tại Hợp đồng tín dụng số [...]/HĐTD ngày 20/3/2018 và hợp đồng sửa đổi bổ sung số 280499796A/HĐTD ngày 10/3/2023, đồng thời yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ. Căn cứ theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.
[2]. Về việc vắng mặt của đương sự: Đối với bị đơn ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ đến phiên toà xét xử lần thứ hai những vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hay trở ngại khạch quan; Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Xuân M2, Bùi Xuân M3 và Bùi Thị Xuân M4 có yêu cầu vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 2 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tóa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
[3]. Về nội dung vụ án: Ngày 20/3/2018 Ngân hàng A với vợ chồng ông Bùi Xuân M có ký hợp đồng tín dụng số [...]/HĐTD. Theo hợp đồng, Ngân hàng A có cho vợ chồng ông Bùi Xuân M vay số tiền 410.000.000 đồng, thời hạn vay là 10 tháng, lãi suất tại thời điểm ký hợp đồng là 7%/năm, mục đích vay nươi ốc hương. Ngân hàng A1 đã giải ngân và ông M đã nhận số tiền giải ngân thực tế. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở thoả thuận tự nguyện của các bên, không bị lừa dối. Hình thức và nội dung của hợp đồng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.
[3.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với ông Bùi Xuân M:
Tại phiên toà, đại diện Ngân hàng A yêu cầu vợ chồng ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải trả các khoản nợ tính đến ngày 18/9/2024 là 18/9/2024 là 531.848.968 đồng, trong đó nợ gốc là 403.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 128.848.986 đồng. Quá trình làm việc và tại biên bản hòa giải ông Bùi Xuân Minh xác n có vay, còn nợ và đồng ý trả cho ngân hàng số tiền nợ còn thiếu, đối với bà Nguyễn Thị M1, tại biên bản làm việc bà đồng ý cùng với ông Bùi Xuân M trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc trên, vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải trả cho ngân hàng số tiền trên.
[3.2] Đối với yêu cầu của Ngân hàng A về việc yêu cầu vợ chồng ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc kể từ sau ngày 18/9/2024 theo mức lãi suất mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ trên. Xét thấy, tại Án lệ số 08/2016/AL của Toà án nhân dân tối cao về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng, nội dung tại Án lệ quy định “..., khách hàng vay phãi tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng, tổ chức tín dụng khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (nếu có), lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay...”. Như vậy, yêu cầu của Ngân hàng A về việc buộc ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền dư nợ gốc kể từ sau ngày 18/9/2024 là có căn cứ, phù hợp với thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng nên chấp nhận.
[3.3] Xét yêu cầu của Ngân hàng A về việc yêu cầu tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số [...]/HĐTC ngày 02/8/2022. Hội đồng xét xử xét thấy, Quá trình vay vốn tại Ngân hàng A, ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 có thế chấp tài sản cho Ngân hàng A là quyền sử dụng thửa đất số 5a tờ bản đồ số 27b diện tích 140m². Xét thấy, hợp đồng thế chấp trên được ký kết đúng theo trình tự thủ tục, đúng đối tượng, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với nội dung thoả thuận của các bên để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi của Ngân hàng N. Chấp nhận toàn bộ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam về quan điểm giải quyết vụ án.
[4]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng. Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu của Ngân hàng A được chấp nhận nên ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định là 2.000.000 đồng. Số tiền này do Ngân hàng đã nộp tạm ứng trước nên buộc ông M, bà M1 phải hoàn trả cho Ngân hàng.
[5]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 25.273.959 đồng. Ngân hàng A không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 228, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 317, 318, 320, 323, 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N đối với bị đơn vợ chồng ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1.
- Buộc vợ chồng ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải trả cho Ngân hàng N số tiền dư nợ gốc tính đến ngày 18/9/2024 là 403.000.000₫ (bốn trăm linh ba triệu đồng).
- Buộc vợ chồng ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải trả cho Ngân hàng N số tiền lãi trên dư nợ gốc tính đến ngày 18/9/2024 là 128.848.986đ (một trăm hai mươi tám triệu, tám trăm bốn mươi tám nghìn, chín trăm tám mươi sáu đồng).
Kể từ ngày 19/9/2024 ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải thanh toán cho ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay). - Tiếp tục duy trì Hợp đồng quyền sử dụng đất số [...]/HĐTC ngày 02/8/2022 để đảm bảo nghĩa vụ thu hồi nợ cho Ngân hàng A. Trường hợp ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm được cơ quan có thẩm quyền xử lý để thu hồi nợ bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất tại thửa đất số 5a, tờ bản đồ số 27b, địa chỉ thôn V, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc vợ chồng ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải hoàn trả cho Ngân hàng N 2.000.000đ (hai triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Về án phí: Buộc vợ chồng ông Bùi Xuân M, bà Nguyễn Thị M1 phải chịu 25.273.959₫ (hai mươi lăm triệu, hai trăm bảy mươi ba nghìn, chín trăm năm mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng N 12.240.900đ (mười hai triệu, hai trăm bốn mươi nghìn, chín trăm đồng) số tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002112 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Nam.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Khánh Hưng |
Bản án số 31/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 31/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án số 31 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng
