|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày 18 tháng 6 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
| - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: | |
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | Ông Bùi Xuân Trường; |
| Thẩm phán: | Ông Nguyễn Quang Vũ; |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Xuân Đào; |
| Ông Vi Văn Định; | |
| Ông Phạm Đức Thọ . | |
| Thư ký phiên toà: | Ông Nguyễn Hồng Quân - Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: | Bà Văn Thị Đào - Kiểm sát viên. |
Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Hình sự - Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh P; Xét xử trực tuyến, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 09 tháng 10 năm 1970 tại: huyện B, thành phố Hà Nội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 10/12; Đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Nguyễn Anh L (đã chết); Con bà: Đỗ Thị D, sinh năm 1945, nay ở thôn T, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; Vợ: Lê Thị O, sinh năm 1987, nay ở thôn T, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2012, nay ở thôn T, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; A, chị, em: Bị cáo có 05 chị em, Nguyễn Văn T là con thứ 2 trong gia đình
Tiền án: bị cáo có 3 tiền án:
- Ngày 26/6/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây xử phạt 13 năm tù giam và phạt 20.000.000₫ về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo bản án số 104/HSST ngày 26/6/2000. Ngày 02/11/2008, chấp hành xong hình phạt tù.
- + Nguyễn Văn T đã thi hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm: 50.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), và tiền phạt ngày 12/9/2014.
- Ngày 28/4/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì, Hà Nội xử phạt 25 tháng tù giam về tội Đánh bạc theo bản án số 45/2011/HSST ngày 28/4/2011. Tổng hợp với bản án số 104/2010/HSST ngày 30/11/2010 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì. Tổng hình phạt chung là 31 tháng tù giam. Đi chấp hành án từ ngày 08/8/2011
- + Nguyễn Văn T đã thi hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm: 50.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và tiền phạt ngày 01/8/2011.
- Ngày 19/12/2013, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 16 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo bản án số 70/2013/HSST ngày 19/12/2013. Tổng hợp hình phạt 31 tháng tù của bản án số 45/2011/HSST ngày 17/5/2011 của Tòa án nhân dân huyện Ba Vì. Hình phạt chung là 18 năm 7 tháng tù giam.
- Ngày 18/01/2023, chấp hành xong hình phạt tù.
- + Nguyễn Văn T đã thi hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền phạt ngày 5/4/2017.
- Nhân thân: Ngày 30/11/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Vì xử phạt 6 tháng tù giam về tội Đánh bạc, theo bản án số 104/2010/HSST ngày 30/11/2010. Nguyễn Văn T đã thi hành xong tiền án phí hình sự sơ thẩm: 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) ngày 18/2/2011.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/01/2024, đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P - Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Ông Chu Văn Q - Luật sư thuộc Công ty L2, Đoàn Luật sư tỉnh P. Địa chỉ: Số nhà A, đường Â, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ - Vắng mặt – Luật sư có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và bài bào chữa cho bị cáo gửi đến Tòa án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 03/01/2024, tại Trạm dừng nghỉ km 98 đường C - Lào Cai thuộc khu D, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) tội phạm ma túy Công an tỉnh P lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T, có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý, mục đích để bán. Thu giữ của Nguyễn Văn T: 02 túi nilon màu trắng bên trong đều có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu ghi kèm 01 thẻ sim số 0389101970; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh kèm 01 thẻ sim số 0878595223; 01 chiếc áo giả da màu đen; Tiền VNĐ: 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng).
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T, không thu giữ được đồ vật, tài sản gì.
Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P quyết định trưng cầu giám định số chất rắn dạng tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn T. Tại bản kết luận giám định số: 26/KL-KTHS, ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 02 túi nilon màu trắng gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 496,043 gam.
* Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ”
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T khai nhận:
Trong thời gian từ tháng 7/2023, T đi làm thuê tại thành phố P, tỉnh Kiên Giang, T có quen biết và làm cùng với một người đàn ông tên là T1 (thường gọi là Tuấn điên, T1 ở đâu T không biết). Quá trình cùng đi làm thuê tự do với nhau, T biết T1 có ma tuý bán, T trao đổi với T1 khi nào có ma tuý thì gọi cho T mua để bán kiếm lời; Đến đầu tháng 12/2023, T nghỉ việc ở thành phố P về nhà ở thôn T, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội thì T1 gọi điện thoại thông báo cho T bảo có khoảng 05 lạng ma tuý đá, T hỏi giá bao nhiêu, T1 nói giá 125.000.000 đồng (Một trăm hai năm triệu đồng). T bảo đồng ý nhưng trừ 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) là số tiền T1 vay nợ T khi cùng làm thuê cùng nhau, còn lại 75.000.000 đồng (Bảy lăm triệu đồng) khi nào T bán được ma tuý sẽ trả cho T1, T1 đồng ý và thống nhất với T việc giao dịch ma tuý thông qua L1 (thường gọi là L1 đen) sẽ giao cho T; Khoảng 02 ngày sau vào buổi sáng, T1 gọi điện cho T bảo đã có ma tuý đá, T1 bảo T đến địa phận Thị xã S, thành phố Hà Nội, T đi theo sự chỉ dẫn của T1 đến điểm hẹn có một người đàn ông giới thiệu tên là L1, em của T1 đưa cho T 01 túi nilon màu đen bên trong có 02 túi ma tuý đá. T mang về giấu ở bờ mương gần nhà.
Đến 21 giờ ngày 02/01/2024, T gọi điện cho anh Trần Việt Đ ở thôn H, xã K, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc thuê xe ô tô đặt hẹn ngày 03/01/2024 để Đ lái chở T đi chơi (T mang số ma tuý mua của T1 đến huyện H, Phú Thọ bán vì có một người đàn ông giới thiệu tên C không biết địa chỉ nhà ở đâu gọi điện hỏi mua). T chuyển khoản từ ngân hàng M cho Đ số tiền 800.000 đồng (T2 trăm nghìn đồng) để Đ thuê xe và đổ xăng. Đến 10 giờ sáng ngày 03/01/2024, Đ đi xe Kia Morning, biển kiểm soát 88A-595.08 đến nhà T đón T. T ngồi ở ghế phụ phía trước chỉ đường cho Đ điều khiển xe ô tô. T khoác chiếc áo giả da màu đen ở ghế Tuân ngồi, trong túi áo bên phải và bên trái T để mỗi bên 01 túi ma tuý đá, khi đi đến Trạm dừng nghỉ Km 98 đường C - Lào Cai thuộc khu D, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, T bảo Đ dừng lại (mục đích để bán ma túy cho C), khi T vừa mở cửa xe thì lực lượng Công an tỉnh P yêu cầu kiểm tra và bắt quả tang như đã nêu trên.
Tại cơ quan điều tra, Trần Việt Đ khai nhận: Tối ngày 02/01/2024, T chuyển 800.000 đồng cho Đ để thuê xe và đổ xăng. Sáng ngày 03/01/2024, Đ có làm hợp đồng thuê xe Kia Morning, biển kiểm soát 88A-595.08 của Phan Thị Thu H, sinh năm 1999; Nơi thường trú: số nhà A, ngõ B, đường Đ, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). Sau đó khoảng 10 giờ cùng ngày đến nhà đón T, T ngồi ở ghế phía trước chỉ đường cho Đ điều khiển xe ô tô, khi lên xe T có cởi áo giả da màu đen khoác lên ghế phía sau vị trí T ngồi. Khi Đ điều khiển xe ô tô đến Trạm dừng nghỉ Km98 đường C - Lào Cai thuộc khu D, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, T bảo Đ dừng xe, T mở cửa xe ngay lúc đó lực lượng Công an tỉnh P yêu cầu kiểm tra, T đã khai báo và lấy từ trong túi áo bên phải và bên trái áo giả da của T 02 túi ma tuý đá giao nộp cho cơ quan Công an tỉnh P. Đ không biết T tàng trữ 02 túi ma tuý đá trên xe mang đi bán.
Căn cứ lời khai của Trần Việt Đ, cơ quan điều tra tiến hành triệu tập đối với Phan Thị Thu H. Tại cơ quan điều tra, H trình bày ký hợp đồng cho thuê xe ô tô tự lái với Trần Việt Đ thuê xe Kia Kia Morning, biển kiểm soát 88A-595.08 từ 8 giờ ngày 03/01/2024 đến 08 giờ 04/01/2024 với giá tiền 500.000 đồng, H không biết mục đích đăng thuê xe để làm gì, phù hợp với lời khai của Trần Việt Đ, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe Kia Kia Morning, biển kiểm soát 88A-595.08 cho chủ sở hữu Phan Thị Thu H.
Cơ quan CSĐT ra lệnh thu giữ điện tín tại Công ty cổ phần V đề nghị cung cấp thông tin chủ thuê bao 0878.595.223 thu giữ của Nguyễn Văn T, xác định số thuê bao đứng tên Vũ Lê Minh N, sinh năm 2006; Nơi thường trú: khối phố P, phường H, TP T, tỉnh Quảng Nam. Cơ quan điều tra ra Quyết định uỷ thác điều tra cho Cơ quan CSĐT Công an T3, tỉnh Quảng Nam yêu cầu xác minh, ghi lời khai đối với Vũ Lê Minh N. Vũ Lê Minh N trình bày: không sử dụng số thuê bao trên và không quen biết bị can Nguyễn Văn T.
Đối với số điện thoại di động T1 dùng gọi giao dịch mua bán ma tuý với T, sau khi nhận được ma tuý thông qua trung gian có tên là L1 sau đó T đã xoá trên điện thoại của mình và giữa T với T1 không trao đổi liên lạc thêm bất cứ lần nào khác. T không nhớ thời gian cụ thể chính xác khi liên lạc với T1. Số điện thoại di động T sử dụng trước, trong và sau khi bị bắt phát sinh rất nhiều cuộc gọi đi và đến nên không xác định được số điện thoại nào của T1 gọi cho T để giao dịch mua bán ma tuý để có căn cứ xác minh.
Đối với người đàn ông tên T1 và L1 bán ma tuý đá cho Nguyễn Văn T, do T không biết cụ thể tên, địa chỉ nhà của T1, L1 nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh.
Đối với người đàn ông tên C gọi điện hẹn T mang ma túy lên H, Phú Thọ để mua, do T không biết cụ thể địa chỉ nhà của C, không nhớ số điện thoại nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh.
Nguyễn Văn T khai sau khi mua ma tuý của T1, T đem về nhà có sử dụng cân để cân lại khối lượng 496,043 gam ma túy, sau đó đem số ma tuý này cất giấu ở bờ mương gần nhà đến ngày 03/01/2024 đem đi bán thì bị bắt quả tang. Cùng ngày, Cơ quan điều tra tổ chức kiểm tra xác minh tại nơi ở của Nguyễn Văn T nhưng không thu giữ được chiếc cân mà T đã khai ở trên.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Quá trình điều tra đã có đầy đủ căn cứ để chứng minh:
Trong khoảng thời gian đầu tháng 12/2023, Nguyễn Văn T đã mua 496,043 gam ma túy loại Methamphetamine của người đàn ông tên T1 ( không biết địa chỉ nhà ở đâu, quen trong quá trình đi làm thuê ở P) về để bán kiếm lời,ngày 03/01/2024, T trên đường đem số ma túy trên đi bán khi đến khu vực tại Trạm dừng nghỉ KM98 đường C - Lào Cai thì bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh P phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của Nguyễn Văn T đã có đủ yếu tố cấu thành Tội mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm b khoản 4, Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Đối với những người liên quan:
- Đối với người đàn ông tên C gọi điện hẹn T mang ma túy lên H, Phú Thọ để mua, do T không biết cụ thể địa chỉ nhà của C, không nhớ số điện thoại nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh trong vụ án này là có căn cứ.
- Đối với Trần Việt Đ là lái xe taxi do bị can Nguyễn Văn T thuê, Đ không biết việc T tàng trữ ma tuý trên xe mang đi bán. Do vậy, Cơ quan CSĐT không đề cập đến việc xử lý Trần Việt Đ trong vụ án này là có căn cứ.
- Đối với Vũ Lê Minh Nghĩa 1 người đứng tên đăng ký thông tin số thuê bao điện thoại của bị can Nguyễn Văn T bị thu giữ. T khai sử dụng số thuê bao này để liên lạc cá nhân và trao đổi mua bán trái phép chất ma tuý. Cơ quan điều tra đã xác minh đối với Vũ Lê Minh N không có liên quan gì đến việc mua bán trái phép chất ma tuý của bị can Nguyễn Văn T. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập đến việc xử lý Vũ Lê Minh N trong vụ án này là có căn cứ.
- Đối với Phan Thị Thu H là chủ xe ô tô Kia Morning, biển kiểm soát 88A-595.08, H có hợp đồng cho Trần Việt Đ thuê xe. H không biết việc mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn T. Cơ quan điều tra không thu giữ và trả lại chiếc xe ô tô này cho Phan Thị Thu H là chủ sở hữu và không đề cập đến vấn đề xử lý trong vụ án này là có căn cứ.
Về nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị can nhận thấy: để thỏa mãn nhu cầu cá nhân có tiền tiêu sài nên Bị can: Nguyễn Văn T đã thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị can Nguyễn Văn T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiện hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự (Tái phạm nguy hiểm; Đã bị kết án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý).
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra vụ án, bị can Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, vật chứng và xử lý như sau:
Thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn T:
- 01 (Một) hộp giấy niêm phong, dán kín bên trong có 416,941 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Bên ngoài hộp giấy có dán 04 băng giấy niêm phong, trên mỗi băng giấy đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan.
- 01 (Một) thẻ CCCD số [...] mang tên Nguyễn Văn T
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu ghi, đã cũ số Imei: 356691114422674 trong máy lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0389.101.970;
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, đã cũ, số Imei: 355406840487441 trong máy lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0878.595.223;
- 01 (Một) chiếc áo giả da màu đen, đã cũ;
Toàn bộ số vật chứng, đồ vật, tài sản tạm giữ trên của bị can Nguyễn Văn T, Cơ quan CSĐT chuyển theo hồ sơ vụ án để đảm bảo việc truy tố xét xử và thi hành án.
Số tiền 1.200.000 đồng thu giữ của bị cáo T đã được nộp vào tài khoản của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ số 3949 0105 4969 00000 mở tại kho bạc nhà nước tỉnh Phú Thọ.
Cáo trạng số 42/CT-VKS-P1 ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ truy tố: Nguyễn Văn T về Tội mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Điều 251 Bộ luật Hình sự: Tội mua bán trái phép chất ma tuý, quy định:
- Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
- )..
- Heroine, C1, Methamphetamine, Amphetamin, MDMA, XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;
Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và thể hiện thái độ ăn năn hối cải.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ vẫn giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 39 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn T.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T tù chung thân.
Hình phạt bổ sung, đề nghị Hội đồng xét xử: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng:
Tịch thu để bán nộp ngân sách nhà nước:
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, đã cũ, số Imei: 355406840487441 trong máy lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0878.595.223;
Trả lại cho Nguyễn Văn T:
- 01 (Một) thẻ CCCD số [...] mang tên Nguyễn Văn T;
- Số tiền 1.200.000 đồng đã được nộp vào tài khoản của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ số 3949 0105 4969 00000 mở tại kho bạc nhà nước tỉnh Phú Thọ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu ghi, đã cũ số Imei: 356691114422674 trong máy lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0389.101.970 nhưng tạm giữ, để đảm bảo thi hành án;
Tịch thu để tiêu hủy:
- 01 (Một) hộp giấy niêm phong, dán kín bên trong có 416,941 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. Bên ngoài hộp giấy có dán 04 băng giấy niêm phong, trên mỗi băng giấy đều có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh P và chữ ký của các thành phần liên quan.
- 01 (Một) chiếc áo giả da màu đen, đã cũ, do bị cáo T không xin nhận lại và nay không còn giá trị sử dụng;
Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 16 tháng 5 năm 2024.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Luật sư bào chữa cho bị cáo T vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố quan điểm bào chữa có nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo phải chịu mức án thấp nhất của khung hình phạt và miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.
Bị cáo T nhất trí ý kiến của Luật sư bào chữa, bị cáo không bổ sung thêm nội dung nào khác và không có ý kiến gì tranh luận.
Bị cáo T nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát, của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Giám định viên trong quá trình điều tra vụ án, truy tố đối với bị cáo đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật sư bào chữa cho bị cáo T đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
- Về căn cứ buộc tội:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với thời gian địa điểm nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với các vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Do muốn có tiền chi tiêu nên bị cáo T đã thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để bán trái phép, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cụ thể như sau:
Hồi 12 giờ 20 phút ngày 03/01/2024, tại Trạm dừng nghỉ Km 98 đường C - Lào Cai thuộc khu D, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T đang có hành vi Tàng trữ 496,043 gam ma túy Methamphetamine; Quá trình điều tra đã chứng minh được: Ngày 03/01/2024, Nguyễn Văn T đã Tàng trữ 496,043 gam ma túy Methamphetamine với mục đích để bán, trên đường T đem ma túy đến H, Phú Thọ để bán cho một người đàn ông tên C thì bị Công an phát hiện bắt quả tang; Khối lượng ma túy mà T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy là 496,043gam ma túy Methamphetamine.
Tại bản kết luận giám định số: 26/KL-KTHS, ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh P, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa bên trong 02 túi nilon màu trắng gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là: 496,043gam.
Methamphetamine là chất ma tuý nằm trong Danh mục IIC, số thứ tự 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ”
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo T khai nhận hành vi tàng trữ ma túy với mục đích để bán kiếm lời như đã nêu trên.
Hành vi của bị cáo T đã có đủ các yếu tố cấu thành Tội mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo T tàng trữ để bán nêu trên: Khoảng thời gian đầu tháng 12/2023 Nguyễn Văn T mua 496,043 gam ma túy loại Methamphetamine của người đàn ông tên T1 (không biết địa chỉ nhà ở đâu, quen trong quá trình đi làm thuê ở P) mục đích để bán kiếm lời, ngày 03/01/2024 trên đường T đem ma túy đi bán, đi đến khu vực tại Trạm dừng nghỉ km 98 đường C - Lào Cai thì bị Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh P phát hiện bắt quả tang.
Do vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
- Về tính chất hành vi phạm tội:
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo T là đặc biệt nghiêm trọng; Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi đó là gây nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, hành vi phạm tội của bị cáo còn làm lây lan tệ nạn nghiện ma túy, lây lan dịch bệnh liên quan đến hút, chích ma túy, hành vi đó đã gây bất bình trong quần chúng nhân dân và còn là nguyên nhân gây ra các hành vi vi phạm pháp luật khác; Đã có nhiều vụ án được đưa ra xét xử và đã áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhưng tình hình mua bán trái phép chất ma túy nói riêng và các tội phạm về ma túy nói chung vẫn diễn biến hết sức phức tạp, vì vậy cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục các bị cáo và làm gương cho người khác.
- Về động cơ, mục đích, nguyên nhân, điều kiện dẫn đến phạm tội của bị cáo: Bị cáo T do muốn kiếm tiền nên đã thực hiện hành vi mua ma túy tàng trữ để bán kiếm lời, mặc dù bị cáo biết việc làm đó là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
- Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo T đã có hai tiền án tội phạm về ma túy, một tiền án tội phạm về đánh bạc và nhân thân về tội Đánh bạc, vậy mà bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân, bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đó là “Mua bán trái phép chất ma túy” do đó bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi đã gây ra.
- Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Lần phạm tội này bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự quy định về Tái phạm, tái phạm nguy hiểm.
Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; Lời đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo T đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà bị cáo phải chịu, cụ thể: Bị cáo T được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng T cũng phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trên cơ sở thể hiện sự nghiêm minh cũng như thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội không thời hạn; Mức hình phạt tù chung thân mà Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đối với bị cáo là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt là chưa phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh bị cáo không có tài sản; Kiểm sát viên tại phiên tòa, Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp được chấp nhận.
- Về vật chứng:
Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị như đã nêu trên là phù hợp được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Trong vụ án này còn có người tên T1 và L1 bán ma tuý cho T; Quá trình điều tra không xác định được danh tính, chỗ ở cụ thể, không xác định được rõ số điện thoại mà các đối tượng sử dụng giao dịch mua bán ma tuý với nhau nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh P chưa có căn cứ để điều tra, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp được chấp nhận.
- - Đối với người đàn ông tên C gọi điện hẹn T đem ma túy lên huyện H, tỉnh Phú Thọ để mua, do T không biết cụ thể địa chỉ nhà của C, không nhớ số điện thoại nên cơ quan điều tra chưa có căn cứ để điều tra, khi nào điều tra làm rõ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp được chấp nhận.
- - Đối với anh Trần Việt Đ là lái xe taxi do bị cáo T thuê, anh Đ không biết việc T tàng trữ ma tuý trên xe đem đi bán. Do vậy không đề cập xử lý Trần Việt Đ là phù hợp được chấp nhận.
- - Đối với anh Vũ Lê Minh Nghĩa 1 người đứng tên đăng ký thông tin số thuê bao điện thoại của bị cáo Nguyễn Văn T bị thu giữ; T khai sử dụng số thuê bao này để liên lạc cá nhân và trao đổi mua bán trái phép chất ma tuý; Cơ quan điều tra đã xác minh đối với Vũ Lê Minh N không liên quan gì đến việc mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo T; Do vậy không đề cập xử lý V1 được chấp nhận.
- - Đối với chị Phan Thị Thu H là chủ xe ô tô Kia Morning, biển kiểm soát 88A-595.08, chị H có hợp đồng cho Trần Việt Đ thuê xe; chị H không biết việc mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn T; Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe ô tô này cho chị Phan Thị Thu H là chủ sở hữu và không đề cập xử lý là phù hợp được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 4 điều 251 Bộ luật Hình sự; Điểm s khoản 1 điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 39 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T: Tù chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ là ngày 03/01/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu để bán nộp ngân sách nhà nước đối với bị cáo Nguyễn Văn T:
- + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu xanh, đã cũ, số Imei: 355406840487441 trong máy lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0878.595.223;
- Trả lại cho Nguyễn Văn T:
- + Số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) đã được nộp vào tài khoản của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ số 3949 0105 4969 00000 mở tại kho bạc nhà nước tỉnh Phú Thọ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- + 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu ghi, đã cũ số Imei: 356691114422674 trong máy lắp 01 thẻ sim số thuê bao 0389.101.970 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
- + 01 (Một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Văn T;
- Tịch thu để tiêu hủy:
- + 01 (Một) hộp giấy niêm phong, dán kín bên trong có 416,941 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
- + 01 (Một) chiếc áo giả da màu đen, đã cũ;
Các vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 16 tháng 5 năm 2024.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Phú Thọ;
- - VKSND cấp cao tai Hà Nội;
- - PC 04 CA tỉnh Phú Thọ;
- - PV 06 Công an tỉnh;
- - Trại giam CA tỉnh Phú Thọ;
- - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
- - Cục THA dân sự tỉnh Phú Thọ;
- - Thi hành án hình sự;
- - UBND nơi bị cáo cư trú;
- - Bị cáo; Luật sư BCCBC
- - Lưu: HS, AV, VP.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Xuân Trường |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên bố bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
