|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày: 18 - 6 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tâm
Bà Tô Thị Ninh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Huế- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Khánh Luyện- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/ 2024/ TLST-HS ngày 17 tháng 05 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Mạnh C; sinh ngày 12 tháng 12 năm 1993, tại: huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn V (đã chết) và bà Lương Thị H; gia đình có 3 chị em bị cáo là con thứ 03; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Không;
Tiền sự:
- Ngày 04/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý hành chính dựa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng, theo QĐ số 23/2020/QD-TA ngày 04/11/2020. Chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ngày 10/11/2022.
- Ngày 15/12/2023 bị Công an huyện Đ, Thái Nguyên xử phạt vi phạm hành chính 350.000 đồng về hành vi mua các số lô, số đề, theo Quyết định số: 103 ngày 15/12/2023.
Nhân thân: + Ngày 03/6/2015, Trần Mạnh C thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy cắt sắt, bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 60/2015/HSST ngày 24/11/2015. Chấp hành xong bản án ngày 12/5/2016, đã được xoá án tích.
- Ngày 16/9/2015, bị Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xử lý vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (QĐ số 102310/QĐ-XPHC ngày 16/9/2015).
- Ngày 15/1/2017 và ngày 06/2/2017 Trần Mạnh C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (Bản án số 17/2017/HSST ngày 25/5/2017). Chấp hành xong bản án ngày 07/5/2018, đã được xoá án tích.
- Ngày 02/8/2018 Trần Mạnh C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 09 tháng tù giam về tội trộm cắp tài sản (theo bản án số 34/HSST ngày 27/11/2018). Chấp hành xong bản án ngày 04/5/2019, đã được xoá án tích.
Ngày 04/3/2024, Trần Mạnh C bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ khởi tố về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ trong một vụ án khác.
Bị cáo có mặt tại phiên Tòa.
Bị hại: Ông Lương Thế T, sinh năm 1977/ Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lương Thị H, sinh năm 1965/ Có mặt
- Anh Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1995/Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người làm chứng:
- Anh Trần Văn H1, sinh năm 1990/Vắng mặt
- Anh Nguyễn Hoàng N, sinh năm 1995/Vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn S, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 27/01/2024 Trần Mạnh C (Sinh năm: 1993, trú tại: Tổ dân phố H, thị trấn C, huyện Đ), đi đến nhà anh rể của C là Trần Văn H1 (Sinh năm: 1990, thuộc xóm Đ xã B, huyện Đ) để mượn xe mô tô đi chơi. Khi đến nơi, C gọi điện thoại cho anh H1 nhưng anh H1 không nghe điện thoại mà đưa cho chị Trần Thị L (Sinh năm: 1990 là chị gái của C) nghe điện thoại, C hỏi chị L cho C mượn chiếc xe mô tô của vợ chồng chị L để đi chơi nhưng chị L không đồng ý. Sau đó, C đi bộ đến nhà cậu của C là anh Lương Thế T (Sinh năm: 1977, ở cùng xóm với anh H1). Khi đến nhà anh T thấy cửa cổng đóng nhưng không khoá, C gọi cửa nhưng không thấy ai mở cửa, C liền mở cổng đi vào trong nhà. Thấy tại sân nhà anh T có hai chiếc xe mô tô, trong đó có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát (viết tắt là BKS) 37H1- 305.79 màu đen xám, chìa khoá điện vẫn cắm ở ổ khoá nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Sau đó, C lấy 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ loại mũ nửa đầu trên nóc tủ ở sân, rồi ngồi lên chiếc xe mô tô, nổ máy và điều khiển xe đi đến phường Q, thành phố T để mua ma tuý sử dụng. Sau khi sử dụng ma tuý, C điều khiển xe mô tô đi đến quán nước gần cổng trường Đại học S để uống nước, tại đây C đã vứt chiếc mũ bảo hiểm vào thùng rác, sau đó điều khiển xe mô tô đi đến huyện Đ. Trên đường đi, C gặp bạn là Nguyễn Hoàng N (Sinh năm: 1995, trú tại: Tổ dân phố E, thị trấn S, huyện Đ), C hỏi N chỗ để bán chiếc xe mô tô thì N hỏi mua, sau khi thoả thuận, C đã bán cho N chiếc xe mô tô trên với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua xe N đèo C đến nhà bạn của C tên là C1. C ở tại nhà C1 đến ngày 04/02/2024 C đến Công an huyện Đ để đầu thú và giao nộp 01 áo khoác gió màu đen, 01 quần gió màu đen, 01 đôi giày vải đế nhựa màu đen. Đối với số tiền 3.000.000 đồng C khai đã mua ma tuý để sử dụng cho bản thân và tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện gia đình bị mất trộm xe mô tô ngày 28/01/2024 anh Lương Thế T đã trình báo Công an xã B, huyện Đ đề nghị giải quyết, vụ án sau đó được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 05/02/2024, Trần Mạnh C đã cùng anh Trần Văn H1 đến nhà Nguyễn Hoàng N để chuộc chiếc xe mô tô trả lại cho anh Lương Thế T.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 07 ngày 06/02/2024 của HĐĐG tài sản thường xuyên tố tụng hình sự huyện Đ kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, dung tích 110, BKS 37H1-305.79, màu đen xám, cũ đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá có giá trị 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Đối với chiếc mũ bảo hiểm loại mũ bảo vệ nửa đầu do tài sản không rõ nhà sản xuất, nhãn hiệu, đây là tài sản rẻ tiền mau hỏng, trên thị trường không phát sinh việc mua bán nên Hội đồng không tiến hành xác định giá trị.
Quá trình điều tra, Trần Mạnh C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, người chứng kiến vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng, tài sản tạm giữ hoặc kê biên trong vụ án gồm:
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, BKS 37H1-305.79 Sau khi xác minh làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Lương Thế T là chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
01 chiếc áo khoác gió liền mũ màu đen, nhãn hiệu SPORTS WEAR; 01 quần gió màu đen, hai ống quần có viền xanh, nhãn hiệu FILA; 01 đôi giày vải đế nhựa, màu đen, có dòng chữ SUP màu trắng, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Công an huyện Đ chờ xử lý.
Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ, loại mũ nửa đầu có kính C khai đã vứt vào thùng giác tại khu vực Cổng trường Đại học S, Cơ quan cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại chiếc xe mô tô, người bị hại là Lương Thế T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, anh Nguyễn Hoàng N không yêu cầu đề nghị gì vì đã nhận lại 3 triệu đồng tiền mua xe, đối với số tiền 3 triệu đồng bà H đã trả cho bị cáo. Bà H không yêu cầu bị cáo phải trả lại.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSĐH ngày 16 tháng 5 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trần Mạnh C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Mạnh C về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo Trần Mạnh C từ 18 đến 24 tháng tù. Ngoài ra còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Bị cáo C, bà H đều không có ý kiến tranh luận, bị cáo C nói lời sau cùng, đến nay các bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của mình, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt những người tham gia tố tụng: Tại phiên Tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên qua, người làm chứng. Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt. Người làm chứng, người liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến phiên Toà nhưng vẫn vắng mặt. Quá trình điều tra đã có lời khai của người làm chứng, người liên quan, xét thấy sự vắng mặt của người tham gia tố tụng này không ảnh hưởng đến việc xét xử khách quan vụ án hay gây cản trở cho việc xét xử. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng trên.
[3] Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo Trần Mạnh C đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;vật chứng thu giữ,.. và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ ngày 27/01/2024, tại nhà anh Lương Thế T, thuộc xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Trần Mạnh C đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Loại Sirius màu đen xám, BKS 37H1-305.79 trị giá 8.000.000 đồng của gia đình anh T. Sau đó C mang chiếc xe mô tô bán cho Nguyễn Hoàng N (Sinh năm: 1995, tại tổ dân phố E, thị trấn S, Đ) với giá 3.000.000 đồng, số tiền này C đã chi tiêu cá nhân hết.
Do đó, hành vi của bị cáo Trần Mạnh C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
[4] Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hoàng Mạnh C2:
[4.1] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo C2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương.
[4.2] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có đủ khả năng nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đã nhiều lần bị xét xử về tội trộm cắp tài sản, bị cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm nhưng không lấy đó làm bài học để thay đổi bản thân mà tiếp tục cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo C2 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là “ Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại các điểm s, b khoản 1 Điều 51 và trong quá trình điều tra bị cáo cường đã ra cơ quan đầu thú, bị hại ông Lương Thế T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[4.3] Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có 2 tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 có tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nhưng bị cáo đã nhiều lần bị xét xử, xử phạt. Bị cáo có đầy đủ năng lực nhận thức nhưng không lấy đó làm bài học để thay đổi mà còn tiếp tục cố ý phạm tội. Nên cần thiết xét xử bị cáo bằng hình phạt phạt tù, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ điều kiện để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo bị cáo C2 từ 18 đến 24 tháng tù là có căn cứ. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc đến tính chất của vụ án, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xét xử bị cáo mức án phạt tù phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án:
01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, BKS 37H1-305.79 Sau khi xác minh làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh Lương Thế T là chủ sở hữu quản lý, sử dụng là phù hợp.
01 chiếc áo khoác gió liền mũ màu đen, nhãn hiệu SPORTS WEAR; 01 quần gió màu đen, hai ống quần có viền xanh, nhãn hiệu FILA; 01 đôi giày vải đế nhựa, màu đen, có dòng chữ SUP màu trắng bị cáo không đề nghị nhận lại đồng thời vật cũ không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 01 chiếc mũ bảo hiểm màu đỏ, loại mũ nửa đầu có kính C2 khai đã vứt vào thùng giác tại khu vực Cổng trường Đại học S, Cơ quan cảnh sát điều tra đã truy tìm nhưng không thu giữ được.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại chiếc xe mô tô, người bị hại là Lương Thế T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gi thêm. Anh Nguyễn Hoàng N không yêu cầu đề nghị gì vì đã nhận lại 3 triệu đồng tiền mua xe, đối với số tiền 3 triệu đồng bà H đã trả cho bị cáo. Bà H không yêu cầu bị cáo phải trả lại.
Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Bị cáo C2 bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ: Các Điều 106, 136; Điều 326; Điều 331 và 333; Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí, Lệ phí; Nghị quyết số 326/ 2016/ NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt:
- Bị cáo Trần Mạnh C 18 (mười tám) tháng tù, thời chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án này.
* Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Trần Mạnh C.
2. Về phần trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Tịch thu tiêu huỷ: 01 áo khoác gió liền mũ màu đen, nhãn hiệu SPORTS WEAR; 01 quần gió màu đen, hai ống quần có viền xanh, nhãn hiệu FILA; 01 đôi giầy vải đế nhựa, màu đen, có dòng chữ SUP màu trắng.
(Tình trạng vật chứng như tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Hoá ngày 17/5/2024.)
5. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Mạnh C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho biết: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đặng Thị Thu Vân |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 15 giờ ngày 27/01/2024, tại nhà anh Lương Thế T, thuộc xóm Đ, xã B, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, Trần Mạnh C đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, Loại Sirius màu đen xám, BKS 37H1-305.79 trị giá 8.000.000 đồng của gia đình anh T. Sau đó Cường mang chiếc xe mô tô bán cho Nguyễn Hoàng N (Sinh năm: 1995, tại tổ dân phố 5, thị trấn Sông Cầu, Đồng
