|
TAND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/DS-ST Ngày 17-6-2024 V/v tranh chấp kiện đòi tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Vịnh
Ông Đoàn Văn Cương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hạnh- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Mạnh Sỹ- Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 38/2024/TLST-DS ngày 21 tháng 02 năm 2024 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 53/2024/QĐST-DS ngày 30/5/2024 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thu H, sinh năm 1997 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, Áp Hải S, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vùng Tàu
- Bị đơn: Chị Đỗ Thị N, sinh năm 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc Quang M, sinh năm 1993 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ A, Áp Hải S, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vùng Tàu
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện các bản tự khai tiếp theo nguyên đơn chị Võ Thị Thu H trình bày: Vào thời điểm năm 2022, chị Đỗ Thị N sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang khi đó là người yêu của anh trai chị có nhiều lần hỏi vay tiền của vợ chồng chị để làm ăn. Chị có cho chị N vay tiền nhiều lần bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của chị N. Khi cho vay chị sử dụng tài khoản internet banking của chồng chị là anh Nguyễn Ngọc Quang M, số tài khoản 667041000740 mở tại Ngân hàng B, chi nhánh B1 để chuyển tiền vào số tài khoản 2507205464504 mang tên chị Đỗ Thị N mở tại Ngân hàng N1 cho chị N vay tiền. Cụ thể các lần chuyển tiền như sau:
- + Lần 1: Ngày 07/02/2022 chị đã chuyển số tiền 19.000.000 đồng;
- + Lần 2: Ngày 17/02/2022 chị đã chuyển số tiền 10.000.000 đồng;
- + Lần 3: Ngày 21/3/2022 chị đã chuyển số tiền 2.000.000 đồng;
- + Lần 4: Ngày 23/5/2022 chị đã chuyển số tiền 300.000.000 đồng;
Tổng số tiền chị chuyển cho chị N vay là 331.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi mốt triệu đồng).
Khi vay giữa hai bên có thoả thuận miệng về lãi suất là 1,66%/tháng, thời hạn cho vay là một năm tính từ ngày chuyển tiền. Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, chị Đỗ Thị N không thực hiện đúng cam kết. Đến nay đã hết thời hạn cho vay, nhiều lần chị liên lạc đòi tiền nhưng chị N vẫn không trả cho vợ chồng chị được đồng nào tiền gốc và lãi. Vợ chồng chị đã ra tận nhà chị N theo địa chỉ tại thôn B, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang nhưng không gặp được chị N, gọi điện thoại chị N không trả tiền còn thách thức. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình, chị đề nghị Toà án giải quyết buộc chị Đỗ Thị N phải trả cho vợ chồng chị tổng số tiền gốc đã vay là 331.000.000 đồng và tiền lãi trong hạn theo lãi suất thoả thuận 1,66%/tháng và trả tiền lãi quá hạn kể từ thời điểm cuối cùng là ngày 24/5/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản tiền vay gốc, tiền lãi tạm tính đến ngày 24/01/2024 với mức lãi suất quá hạn là 0,83%/tháng, tạm tính tiền lãi trong hạn là 63.943.200 đồng. Lãi quá hạn là 21.978.400 đồng. Tổng cộng tiền nợ gốc, tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn tạm tính từ ngày 24/5/2023 tạm tính đến ngày 24/01/2024 là 416.921.600 đồng (Bốn trăm mười sáu triệu chín trăm hai mươi mốt nghìn sáu trăm đồng).
Quá trình giải quyết vụ án tại bản tự khai bổ sung Tòa án nhận được ngày 10/6/2024 chị Võ Thị Thu H rút một phần yêu cầu khởi kiện không đề nghị Tòa án giải quyết về tiền lãi đối với số tiền chị đã cho chị Đỗ Thị N vay mà chỉ yêu cầu chị Đỗ Thị N trả vợ chồng chị số tiền gốc còn nợ là 331.000.000 đồng.
Tại phiên tòa chị Võ Thị Thu H có đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu đòi chị Đỗ Thị N phải trả vợ chồng chị số tiền gốc còn nợ 331.000.000 đồng và xin xét xử vắng mặt.
*Bị đơn chị Đỗ Thị N: Được Tòa án giao thông báo thụ lý vụ án cho người thân là ông Đỗ Văn Vũ b đẻ nhận thay và cam kết giao thông báo lại cho chị N theo quy định của pháp luật. Tòa án đã niêm yết thông báo thụ lý vụ án, yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, giấy triệu tập phiên tòa, quyết định đưa vụ án ra xét xử và các văn bản tố tụng khác theo quy định. Tòa án đã đăng thông báo tống đạt cho người vắng mặt tại nơi cư trú trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nhưng chị Đỗ Thị N không đến Tòa án làm việc từ chối đưa ra ý kiến quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa chị Đỗ Thị N được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần hai không có lý do.
* Tại bản tự khai, bản tự khai bổ sung người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc Quang M trình bày: Anh là chồng của chị Võ Thị Thu H. Thời điểm đầu năm 2021 anh phải đi chấp hành án do vi phạm pháp luật. Trước khi đi chấp hành án anh có ủy quyền giao cho vợ là chị Võ Thị Thu H ở nhà quản lý thẻ Ngân hàng, số tài khoản 667041000740 được cài đặt trên điện thoại mang tên anh Nguyễn Ngọc Quang M mở tại Ngân hàng B, chi nhánh B1. Anh đã cung cấp cho chị H mật khẩu tài khoản này để chị H quản lý, sử dụng số tiền trong tài khoản để chi tiêu sinh hoạt trong cuộc sống. Khoảng tháng 3/2022 chị H vào thăm anh ở trong trại có nói cho anh biết việc chị H cho chị Đỗ Thị N vay tiền và chuyển tiền trong số tài khoản của anh tổng số tiền là 331.000.000 đồng cho chị N vay. Việc chị H cho chị Đỗ Thị N vay tiền do chị H là người trực tiếp đứng ra giao dịch và thực hiện chuyển khoản.
Ngày 19/01/2023 anh được ra trại trở về nhà thì anh được biết quá trình thực hiện hợp đồng vay, chị Đỗ Thị N đã không thực hiện đúng cam kết. Chị H đã liên lạc đòi tiền nhiều lần nhưng chị N không trả tiền. Nay vợ anh là chị H đang khởi kiện chị Đỗ Thị N tại Tòa án. Anh hoàn toàn nhất trí với đơn khởi kiện, các lời khai chị H đã trình bày tại Tòa án và không bổ sung gì thêm. Do bận công việc và ở xa, anh xin vắng mặt tất cả quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Ngọc Q M có đơn giữ nguyên quan điểm trên và xin xét xử vắng mặt.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn chị Đỗ Thị N không chấp hành quy định của BLTTDS từ chối khai báo, tại phiên tòa vắng mặt lần hai không có lý do.
Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thu H.
Buộc chị Đỗ Thị N phải trả cho chị Võ Thị Thu H và anh Nguyễn Ngọc Q M số tiền gốc còn nợ là 331.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi mốt triệu đồng).
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Ngày 21/02/2024, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện tranh chấp kiện đòi tài sản của chị Võ Thị Thu H với bị đơn chị Đỗ Thị N có địa chỉ hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã H, huyện L là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Về tố tụng: Qúa trình thụ lý giải quyết vụ án tuân theo đúng trình tự thủ tục quy định của BLTTDS, tại phiên tòa nguyên đơn chị Võ Thị Thu H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc Quang M có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Đỗ Thị N vắng mặt lần hai không có lý do. HĐXX căn cứ các Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
Về quan hệ tranh chấp: Theo đơn khởi kiện và các tài liệu do chị Võ Thị Thu H cung cấp thì thấy: Trong thời gian từ ngày 07/02/2022 đến ngày 23/5/2022 chị Võ Thị Thu H với chị Đỗ Thị N có xác lập hợp đồng miệng vay tài sản bằng hình thức chuyển khoản số tiền gốc chị H đã chuyển khoản cho chị Đỗ Thị N vay bốn lần tổng cộng là 331.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi mốt triệu đồng), thời hạn thỏa thuận miệng sau một năm của các lần vay sẽ trả cả gốc và lãi. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến số tiền trên là tranh chấp kiện đòi tài sản quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị Thu H, HĐXX xét thấy:
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, căn cứ các sao kê từ tài khoản số [...] mang tên chủ tài khoản Nguyễn Ngọc Quang M (là chồng chị H) mở tại Ngân hàng B, chi nhánh B1 chuyển tiền đến số tài khoản 2507205464504 mang tên chủ tài khoản chị Đỗ Thị N mở tại Ngân hàng N1 và các tài liệu do Tòa án thu thập là bản sao kê do Ngân hàng N1 chi nhánh B2 cung cấp có cơ sở xác định: Do có sự quen biết chị Võ Thị Thu H và chị Đỗ Thị N có thống nhất thỏa thuận miệng chị Võ Thị Thu H cho chị Đỗ Thị N vay bốn lần tiền, thời hạn thanh toán thỏa thuận miệng là một năm kể từ ngày vay tiền, hình thức cho vay bằng giao dịch điện tử thông qua tài khoản Ngân hàng. Theo sự thống nhất thỏa thuận miệng giữa hai bên, chị Võ Thị Thu H đã thực hiện hợp đồng vay tài sản bằng hình thức chuyển tiền từ tài khoản số [...] mang tên Nguyễn Ngọc Quang M (là chồng chị H) mở tại Ngân hàng B, chi nhánh B1 đến số tài khoản 2507205464504 của chị Đỗ Thị N mở tại Ngân hàng N1 bốn lần cụ thể như sau:
- Ngày 07/02/2022 chị H chuyển số tiền 19.000.000 đồng vào tài khoản của chị N;
- Ngày 17/02/2022 chị H đã chuyển số tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản của chị N;
- Ngày 21/3/2022 chị H đã chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng vào tài khoản của chị N;
- Ngày 23/5/2022 chị H đã chuyển khoản số tiền 300.000.000 đồng vào tài khoản của chị N.
Tổng số tiền chị Võ Thị Thu H chuyển cho chị Đỗ Thị N vay là 331.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi mốt triệu đồng). Số tiền này phù hợp với số tài khoản giao dịch nhận tiền của chị Đỗ Thị N mở tại Ngân hàng N1 do chi nhánh B2 cung cấp cho Tòa án trong khoảng thời gian từ ngày 07/02/2022 đến ngày 23/5/2022.
HĐXX xét thấy giao dịch dân sự hợp đồng vay tiền xác lập bằng miệng giữa hai bên hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 116 của Bộ luật dân sự. Khi tham gia giao dịch dân sự chị H, chị N đều có đủ năng lực hành vi dân sự, mục đích và nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái với đạo đức xã hội, người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện phù hợp với quy định tại Điều 117 của Bộ luật dân sự. Hình thức của giao dịch dân sự thể hiện bằng lời nói là hợp đồng miệng giữa chị H và chị N, thể hiện thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu chuyển tiền và nhận tiền qua giao dịch sao kê từ tài khoản Ngân hàng I của anh Nguyễn Ngọc Quang M mở tại Ngân hàng B, chi nhánh B1 chuyển tiền đến số tài khoản 2507205464504 mang tên chủ tài khoản chị Đỗ Thị N mở tại Ngân hàng N1 phù hợp với Điều 119 của Bộ luật dân sự.
Quá trình vay tiền xong đến hạn thanh toán như hai bên thỏa thuận miệng là sau một năm của các lần vay, chị H có liên lạc với chị N đòi tiền nhiều lần, nhưng chị N chưa trả được chị H đồng nào tiền gốc và lãi theo thỏa thuận miệng giữa hai bên. Quá trình giải quyết vụ án phía chị Đỗ Thị N được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng phía chị N cố tình trốn tránh nghĩa vụ thanh toán với chị H không đến Tòa án làm việc, từ chối khai báo không đưa ra ý kiến quan điểm đối với khoản nợ chị H khởi kiện.
Xét thấy chị N không trả tiền đúng hạn theo thỏa thuận miệng giữa hai bên, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị H. Nay chị Võ Thị Thu H đề nghị Tòa án giải quyết buộc chị Đỗ Thị N phải trả số tiền gốc còn nợ là 331.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi mốt triệu đồng). HĐXX xét thấy yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thu H là có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 164, Điều 166, Điều 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật dân sự năm 2015 cần chấp nhận.
5
*Về tiền lãi: Tại đơn khởi kiện chị Võ Thị Thu H yêu cầu giải quyết về số tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn do chị N vi phạm nghĩa vụ trả tiền tuy nhiên chị H không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào về việc thỏa thuận cho vay tiền giữa hai bên có thỏa thuận tính tiền lãi và mức tính lãi.
Quá trình giải quyết vụ án tại bản tự khai bổ sung, chị Võ Thị Thu H thay đổi lời khai xin rút một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tiền lãi trong hạn, lãi suất quá hạn đối các khoản tiền chị đã cho chị N vay, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết về yêu cầu tính tiền lãi.
[3] Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[4] Về chi phí đăng thông báo tống đạt người vắng mặt tại nơi cư trú: Quá trình giải quyết vụ án chị Võ Thị Thu H có đơn đề nghị Tòa án đăng thông báo tống đạt cho người vắng mặt tại nơi cư trú đối với chị Đỗ Thị N. Tòa án đã đăng trên B3 của Tòa án nhân dân tối cao, cổng thông tin điện tử của Tòa án, và phát sóng trên Đ ba lần trong 03 ngày liên tiếp theo quy định tại khoản 2 Điều 180 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Toàn bộ số chi phí này chị Võ Thị Thu H phải chịu, Tòa án đã tạm thu và thanh toán xong với chị Võ Thị Thu H, nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Do yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thu H được chấp nhận, nên chị H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả chị Võ Thị Thu H số tiền 10.000.000 đồng ngày 21/02/2024 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007339 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Buộc chị Đỗ Thị N phải chịu 16.550.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[6] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7] Đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, Điều 166, Điều 357, Điều 463, Điều 466, khoản 2 Điều 470, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thu H.
Buộc chị Đỗ Thị N phải trả cho chị Võ Thị Thu H và anh Nguyễn Ngọc Q M số tiền gốc còn nợ là 331.000.000 đồng (Ba trăm ba mươi mốt triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Chị Võ Thị Thu H không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả chị Võ Thị Thu H số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) ngày 21/02/2024 đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007339 tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Buộc chị Đỗ Thị N phải chịu 16.550.000 đồng (Mười sáu triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
7
Bản án số 31/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp kiện đòi tài sản
- Số bản án: 31/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị H, anh Nh
