|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày 17 - 4 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Hoàng Hào.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Đăng Lợi. Nghề nghiệp: Cán bộ Đoàn xã Nam Cát, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Ông Nguyễn Quang Xuyên. Nghề nghiệp: Phó trưởng Phòng giáo dục và Đào tạo huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Đặng Văn T. Sinh ngày 29 tháng 01 năm 2006; nơi sinh: Huyện N, tỉnh Nghệ AnNơi cư trú: Xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ AnNghề nghiệp: Học sinh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Đ và bà Phạm Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01 tháng 02 năm 2024 đến ngày 04 tháng 02 năm 2024 được tại ngoại. Có mặt.
2. Võ Anh T1. Sinh ngày 22 tháng 12 năm 2002; nơi sinh: Huyện N, tỉnh Nghệ AnNơi cư trú: Xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ AnNghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn T2 và bà Nguyễn Thị S; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mặt.
Đại diện hợp pháp của bị cáo Đặng Văn T: Ông Đặng Văn Đsinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị L1sinh năm 1979; Nơi cư trú: Xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ AnĐều có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Bùi Thị L2sinh năm 1963. Nơi cư trú: Xóm E, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An Vắng mặt.
- Đại diện Trường THPT N1, huyện N, tỉnh Nghệ Anông Hồ Đức N, sinh năm 1977. Chức vụ: Phó Hiệu trưởng Trường THPT N1 Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 12 năm 2023, Đặng Văn T gặp và hỏi Võ Anh T1 có làm pháo không thì T1 trả lời không nên T nhờ T1 mua Kali Clorat (KClO3) về để làm pháo thì T1 đồng ý. Sau đó, T1 dùng điện thoại di động OPPO A71 của mình đặt mua KClO3 trên mạng và đưa cho T Mấy ngày sau, T tiếp tục gặp và xin T1 20.000 đồng mua lưu huỳnh để làm nguyên liệu sản xuất pháo thì T1 đồng ý và đưa cho T 20.000 đồng. Sau đó T đi đến ki ốt tạp hóa của bà Bùi Thị L2 mua 20.000 đồng tiền lưu huỳnh. Đến khoảng cuối tháng 12 năm 2023, khi đã có đủ nguyên liệu thì T bắt đầu sản xuất pháo tự chế tại nhà của mình. Ngày 20/01/2024, T1 sang nhà T chơi thấy T đang ngồi làm vỏ pháo nên T1 cùng vào làm pháo với T Ngày 25/01/2024, do T hết nguyên liệu để làm vỏ pháo nên T1 mang báo, sách vở cũ sang cho T để làm vỏ pháo. Đến ngày 27/01/2024, sau khi làm được 29 khối pháo thì hết thuốc pháo nên T nghỉ làm và mang số pháo làm được cùng các công cụ làm pháo cất giấu ở nhà của mình. Đến khoảng 22 giờ, ngày 28/01/2024, Đặng Văn T mang theo 01 khối pháo mình đã làm được và rủ Võ Chí H đi ra đường thuộc xóm I, xã N, huyện N để nổ thử pháo. Đến khoảng 18 giờ 15 phút, ngày 01/02/2024, Đặng Văn T lấy 28 khối pháo mình làm được cho vào bì xác rắn và chuẩn bị mang đi cất giấu ở nơi khác thì bị lực lượng Công an xã Nhuyện N phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tiến hành khám xét thu thêm vỏ pháo, dây cháy chậm và các dụng cụ khác dùng để sản xuất pháo.
Ngày 02/02/2024, Võ Anh T1 tự nguyện đến Công an huyện N đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 01/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng, lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại đối với các đồ vật thu giữ của Đặng Văn T, kết quả: 28 khối pháo hình trụ tròn kích thước khác nhau có tổng khối lượng là 12,739 kg; 08 đoạn dây cháy chậm chiều dài khác nhau có tổng khối lượng 0,135 kg.
Tại Kết luận giám định số 266/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 05/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu vật (ký hiệu A1) gửi tới giám định đều là pháo, thuộc loại pháo nổ; Mẫu vật (ký hiệu A2) gửi tới giám định là dây cháy chậm”.
Bản Cáo trạng số 35/CT-VKS-NĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Đàn truy tố Đặng Văn T và Võ Anh T1 về tội “Sản xuất hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn T và Võ Anh T1 phạm tội “Sản xuất hàng cấm”.
Về hình phạt chính:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 100 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T mức án từ 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ
Áp dụng vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Anh T1 mức án từ 12 đến 14 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 28 tháng.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Về vật chứng:
07 khối hình trụ tròn có kích thước khác nhau được làm bằng giấy, rỗng ruột; 01 kéo sắt có cán màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 con dao sắt có cán bằng gỗ màu nâu, đã qua sử dụng; 01 tua vít sắt cán nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 chai bia Huda bằng thủy tinh màu xanh, đã qua sử dụng, không có nắp đậy, đã qua sử dụng; 01 hộp nhựa hình nón trong suốt, có thân và đáy màu trắng, phía trên viền nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng. Đây là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 (2018) màu đen, Imeil: 868499031218170, Imei2: 868499031218162, máy đã qua sử dụng, không gắn thẻ sim, không kiểm định chất lượng. Đây là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc mua vật liệu sản xuất pháo, còn giá trị sử dụng cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Văn T và Võ Anh T1 đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo không có tranh luận gì.
Bị cáo T nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ để bị cáo cố gắng phấn đấu trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo T1 nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết hành vi sản xuất hàng cấm là vi phạm pháp luật, do hiểu biết pháp luật hạn chế, xin Tòa giảm nhẹ.
Đại diện hợp pháp của bị cáo T trình bày: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để cháu có cơ hội sửa chữa sai lầm của mình.
Đại diện Trường THPT N12 trình bày: Với mục đích giáo dục là chính, bị cáo Thiểu biết pháp luật hạn chế, tuổi còn trẻ nên mong Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhưng đã có lời đầy đủ tại hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi và tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo Đặng Văn T và Võ Anh T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng cuối tháng 12 năm 2023 đến ngày 27 tháng 01 năm 2024, tại xóm I, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An Đặng Văn T và Võ Anh T1 đã có hành vi chuẩn bị, mua nguyên, vật liệu để sản xuất 12,739 kg pháo nổ. Hành vi trên của Đặng Văn T và Võ Anh T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sản xuất hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Về áp dụng hình phạt chính: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với một số hàng hóa cấm nói chung và hàng hóa cấm là pháo nổ nói riêng, làm mất trật tự an toàn xã hội trên địa bàn do đó cần xử lý nghiêm. Vụ án có đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn, bị cáo T khởi xướng, trực tiếp tìm hiểu trên mạng xã hội cách thức, mua nguyên vật liệu để sản xuất pháo nổ, bị cáo T1 đồng phạm tích cực, đưa tiền cho bị cáo T mua vật liệu, cung cấp giấy để sản xuất pháo nổ.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo T có ông nội Đặng Đình L3 và bà nội Phạm Thị M được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, ông ngoại Phạm Văn S1 và bà ngoại Đặng Thị D được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất. Sau khi phạm tội, bị cáo T1 đã đầu thú. Ngoài ra, bị cáo T1 có ông nội Võ Văn H1 và bà nội Võ Thị L4 được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; ông nội Võ Văn H1 được tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; ông ngoại Nguyễn Kim T3 được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương kháng chiến hạng Nhì, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại thời điểm phạm tội, bị cáo T 17 tuổi 11 tháng 27 ngày nên được hưởng các quy định tại Chương XII “Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội” của Bộ luật Hình sự nên khi lượng hình cần áp dụng mức hình phạt thấp hơn theo điều luật quy định.
Xét thấy: Các bị cáo Đặng Văn T và Võ Anh T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù mà có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên việc cho bị cáo được hưởng án treo không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo T đang là học sinh, bị cáo T1 không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo.
[6] Về vật chứng:
12,739 kg pháo nổ (28 khối pháo hình trụ tròn kích thước khác nhau); 0,135 kilôgam dây cháy chậm thu giữ của Đặng Văn T đã được sử dụng hết để giám định hết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
07 khối hình trụ tròn có kích thước khác nhau được làm bằng giấy, rỗng ruột; 01 kéo sắt có cán màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 con dao sắt có cán bằng gỗ màu nâu, đã qua sử dụng; 01 tua vít sắt cán nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 chai bia Huda bằng thủy tinh màu xanh, đã qua sử dụng, không có nắp đậy, đã qua sử dụng; 01 hộp nhựa hình nón trong suốt, có thân và đáy màu trắng, phía trên viền nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng. Đây là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu và tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 (2018) màu đen, Imeil: 868499031218170, Imei2: 868499031218162, máy đã qua sử dụng, không gắn thẻ sim, không kiểm định chất lượng của Võ Anh T1. Đây là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc mua vật liệu sản xuất pháo, còn giá trị sử dụng cần tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Hành vi liên quan:
Đối với bà Bùi Thị L2 là người đã bán lưu huỳnh cho Đặng Văn T nhưng không biết việc T sản xuất pháo nổ nên không có căn cứ để xử lý là đúng quy định. Đối với Võ Chí H là người được T rủ đi cùng nổ pháo nhưng H không tham gia vào việc sản xuất pháo và nổ pháo nên không có căn cứ để xử lý là đúng quy định.
[8] Về án phí: Các bị cáo Đặng Văn T và Võ Anh T1 phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Đặng Văn T và Võ Anh T1 phạm tội “Sản xuất hàng cấm”.
2. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65, Điều 90, Điều 91, Điều 98, Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T: 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng.
3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Anh T1: 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng.
Thời gian thử thách của án treo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (17 tháng 4 năm 2024).
Giao hai bị cáo Đặng Văn T và Võ Anh T1 cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
4.1. Tịch thu và tiêu hủy:
07 khối hình trụ tròn có kích thước khác nhau được làm bằng giấy, rỗng ruột; 01 kéo sắt có cán màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 con dao sắt có cán bằng gỗ màu nâu, đã qua sử dụng; 01 tua vít sắt cán nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng; 01 chai bia Huda bằng thủy tinh màu xanh, đã qua sử dụng, không có nắp đậy, đã qua sử dụng; 01 hộp nhựa hình nón trong suốt, có thân và đáy màu trắng, phía trên viền nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng.
4.2. Tịch thu và nộp ngân sách Nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 (2018) màu đen, Imeil: 868499031218170, Imei2: 868499031218162, máy đã qua sử dụng, không gắn thẻ sim, không kiểm định chất lượng.
(Đặc điểm chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện N và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An ngày 26 tháng 3 năm 2024).
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 và Điều 24 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng Văn T và Võ Anh T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Văn T và Võ Anh T1 có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Hoàng Hào |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm về tội sản xuất hàng cấm
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Sản xuất hàng cấm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn Thai và đp - SX hàng cấm
