|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST Ngày 27/12/2023 V/v: "Ly hôn" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Ngát
2. Ông Lã Văn Minh
Thư ký phiên toà: Ông Lê Văn Khiết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên tòa: Ông Vương Văn Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 86/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1967. Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.
- Địa chỉ: Thôn R, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- - Bị đơn: Ông Vũ Văn U, sinh năm 1968. Vắng mặt, xin được vắng mặt.
- Địa chỉ: Thôn R, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn bà Ngô Thị T trình bày:
Bà và ông Vũ Văn U kết hôn với nhau vào năm 1993, trước khi cưới có được tìm hiểu, tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Vợ chồng được hai bên gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Cưới xong bà về làm dâu nhà ông U, chung sống cùng ông U tại thôn R, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, đến đầu năm 2020 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông U có quan hệ bất chính với người phụ nữa khác, không chung thủy nên vợ chồng xảy ra đánh, cãi chửi nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa.
Nay bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, bà đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Vũ Văn U.
Về con chung: Bà và ông U có với nhau 02 con chung là chị Vũ Hải Y, sinh ngày 04/3/1993 và anh Vũ Tuấn C, sinh ngày 20/9/1996. Hiện tại con chung đã trưởng thành, có gia đình riêng nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/11/2023, bị đơn là ông Vũ Văn U trình bày:
Ông và bà Ngô Thị T kết hôn với nhau năm 1993, trước khi kết hôn có được tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới, bà T về chung sống cùng ông, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2022, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, ông có quan hệ với người đàn bà khác nên vợ chồng xảy ra cãi nhau. Bà T đã sống ly thân với ông từ tháng 10/2022 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay ông xác định mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, ông vẫn còn tình cảm với bà T nên không đồng ý ly hôn. Trường hợp bà T vẫn kiên quyết ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là chị Vũ Hải Y, sinh ngày 04/3/1993 và anh Vũ Tuấn C, sinh ngày 20/9/1996. Hiện tại con chung đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông U không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bà Ngô Thị T, ông Vũ Văn U đều xin được vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử công bố lời khai của bà T, ông U và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị T: Cho bà Ngô Thị T, ông Vũ Văn U được ly hôn.
- - Về án phí: Bà Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Ngô Thị T khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết ly hôn với ông Vũ Văn U, có nơi cư trú tại thôn R, xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Các đương sự bà Ngô Thị T, ông Vũ Văn U đều xin được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị T và ông Vũ Văn U kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện S, tỉnh Bắc Giang vào ngày 05/02/1993. Do vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.
Bà T xác định vợ chồng có mâu thuẫn là do ông U ngoại tình, vợ chồng cãi chửi nhau, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2022 nên bà T xin ly hôn. Ông U thừa nhận ý kiến mà bà T trình bày là đúng nhưng không đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử thấy rằng, vợ chồng bà T, ông U chung sống với nhau hòa thuận đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông U ngoại tình dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau. Như vậy, ông U đã vi phạm phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của người chồng được quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình là thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và nghĩa vụ chung sống với nhau, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được; Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là đúng quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Bà Ngô Thị T và ông Vũ Văn U có 02 con chung là chị Vũ Hải Y, sinh ngày 04/3/1993 và anh Vũ Tuấn C, sinh ngày 20/9/1996. Hiện tại chị Y, anh C đã trưởng thành, bà T, ông U không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Bà Ngô Thị T và ông Vũ Văn U không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, công nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, bà Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số: 0000758, ngày 12 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị T: Cho bà Ngô Thị T được ly hôn với ông Vũ Văn U.
- Về án phí: Bà Ngô Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu số 0000758, ngày 12 tháng 10 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hằng |
Bản án số 31/2023/HNGĐ-ST ngày 27/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn
- Số bản án: 31/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà T kết hôn với ông U, do mâu thuẫn nên khởi kiện xin ly hôn, Tòa án chấp nhận cho ly hôn
