|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/HS - PT. |
|
|
Ngày 16 - 9 - 2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Ngọc Thức.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Thuỷ và ông Ma Hồng Thắng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 36/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Trường T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2024/HS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Bị cáo có kháng cáo: NGUYỄN TRƯỜNG THỌ (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; Sinh ngày 30/11/1977 tại huyện P, thành phố Hà Nội;
Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện P, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Nguyễn Văn H và bà Trần Thị T1 (đã chết); Vợ: Trần Thị T2; Con: Có 03 con.
Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 23/12/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Hiện nay đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Trần Văn Q, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 11/12/2023, Nguyễn Trường T đến nhà Nguyễn Văn T3 tại thôn T, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (là quản lý công trình xây dựng cho T) để ăn cơm, uống rượu. Cùng ăn có: Nguyễn Thị Lan A (vợ của T3), Nguyễn Thị T4 (chị gái Lan A); Nguyễn Khánh Duy A1 (con trai T3); Nguyễn Văn H1 (em trai của Lan A); Vi Thị C và Đỗ Thị H2. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, mọi người
2
ăn uống xong rồi cùng nhau về nhà T4 (cách nhà T3 khoảng 100m) hát karaoke, uống bia. Trong quá trình hát karaoke, Trần Văn Q gọi video qua ứng dụng Zalo cho T4 thì thấy T4 đang hát karaoke cùng những người trên nên đã xảy ra cãi vã với T4, T4 tắt điện thoại tiếp tục hát. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày thì nghỉ, T cùng T3, Lan A, Duy A1 đi về nhà T3, những người còn lại đi về.
Khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, Trần Văn Q đến trước cửa nhà T4, đập tay vào cửa và nắp capo xe ô tô của T4 để yêu cầu T4 mở cửa nói chuyện. T4 thấy vậy thì gọi điện cho T3 biết, sau đó T3, T và Duy A1 đi đến thì thấy Q, T3 nói: "Thằng kia, mày ở đâu mà đến nửa đêm, mày đến đập cửa nhà người ta", sau đó T3, T và Q xảy ra cãi chửi nhau. T dùng tay phải tát Q 01 nhát trúng vào phía sau đầu của Q (không để lại thương tích), T3 túm cổ áo Q đẩy ra ngoài đường đuổi về. Q chạy đến khu vực cổng chợ Y ở bên đường đối diện, nghĩ Q tìm đồ vật đánh mình nên T3 chạy theo ôm lấy Q, giằng co khiến cả hai ngã xuống nền bê tông (không để lại thương tích). Qua ánh sáng từ ánh đèn điện nhà dân hắt ra, T nhìn thấy hai người ôm nhau vật lộn nằm dưới đất, nghĩ T3 bị Q đánh nên T nhặt 01 thanh củi bằng gỗ tròn, vỏ đã khô, dài khoảng 80cm, đường kính khoảng 04cm, trên thân có nhiều mấu tại sân nhà T4 rồi chạy đến vị trí T3 và Q đang giằng co để giúp T3. Khi đến nơi, lúc này T đứng cách Q khoảng 1m, T dùng tay phải cầm đoạn gỗ trên vụt một phát theo hướng từ trên xuống nhằm vào chân của Q nhưng không trúng, T tiếp tục nhằm vào chân của Q vụt 01 phát theo hướng từ trên xuống, nhưng lúc này do Q bất ngờ đứng dậy nên gậy của T đã trúng vào đỉnh đầu của Q khiến Q ngã ra nền bê tông và bị ngất, đầu chảy nhiều máu. T thấy Q bị thương bỏ lại gậy tại chỗ. T3 thấy vậy liền cởi áo đang mặc để băng bó, sơ cứu vết thương ban đầu cho Q, sau đó đưa Q đi đến Trung tâm y tế huyện H điều trị (lúc này khoảng giờ 23 giờ 45 phút cùng ngày). Đến 08 giờ 40 phút ngày 14/12/2023, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để đầu thú về hành vi cố ý gây thương tích của mình.
- Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 276/2023/KLTTCT-TTPY ngày 19/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T, kết luận đối với thương tích của Trần Văn Q: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Văn Q tại thời điểm giám định là 37% (Ba mươi bảy phần trăm) theo phương pháp cộng tại thông tư. Thương tích như trên là do vật tầy tác động trực tiếp gây nên.
- Tại kết luận giám định số 45/KL-KTHS ngày 04/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Trên các mẫu ký hiệu A1, A2, A3 có máu người, thuộc nhóm máu B; Trên đoạn gỗ (ký hiệu A4) gửi giám định không phát hiện dấu vết máu.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 và Thông báo sửa chữa, bổ sung bản án số 02/2024/TB-TA ngày 19/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trường T, phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 5 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù, được khấu trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 14/12/2023 đến ngày 23/12/2023
3
là 10 (Mười) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 5 (Năm) năm 5 (Năm) tháng 21 (Hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, bị cáo Nguyễn Trường T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.
Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang phát biểu quan điểm và tranh luận:
- Về thủ tục tố tụng đảm bảo đúng quy định pháp luật, đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ trong hạn luật định, thủ tục giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm đúng trình tự tố tụng.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết liên quan đến vụ án trên cơ sở các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, đánh giá mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 05 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích là đúng người, đúng tội, đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình: 01 giấy khen của bị cáo được UBND xã Đ, huyện P tặng có thành tích xuất sắc trong việc đóng góp xây dựng nông thôn mới năm 2022; 01 Giấy truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt nam Anh hùng bà Nguyễn Thị Ư (bà nội bị cáo); 02 Giấy tổ quốc ghi công liệt sĩ Nguyễn Văn T5 và liệt sĩ Nguyễn Văn D (chú ruột bị cáo); Đơn xin giảm án của bị cáo có nội dung: Hiện bị cáo đang thờ cúng 02 chú ruột là liệt sĩ... (có xác nhận chính quyền địa phương); bị hại Trần Văn Q có đơn và tại phiên toà phúc thẩm tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo; sau phiên toà sơ thẩm bị cáo tiếp tục tự nguyện bồi thường cho bị hại Q 30.000.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt như sau: Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 03 năm tù cho hưởng án treo, về tội Cố ý gây thương tích. Thử thách 05 năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N bị cáo cư trú để giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trình bày lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
4
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đúng pháp luật; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Trường T tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường; Các kết luận giám định; Lời khai của bị hại; Người làm chứng; Các biên bản xác minh và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ trên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ 45 phút ngày 11/12/2023, tại khu vực cổng chợ Y, thuộc thôn T, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Do mâu thuẫn cá nhân bị cáo Nguyễn Trường T đã có hành vi dùng 01 đoạn gậy gỗ tròn, dài khoảng 80cm, đường kính khoảng 04cm vụt một phát trúng đầu anh Trần Văn Q sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang gây thương tích, tổn thương cơ thể đối với anh Trần Văn Q là 37% (Ba mươi bảy phần trăm). Hành vi của bị cáo Nguyễn Trường T đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
[2] Vể nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo tiếp tục thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo xuất trình 01 giấy khen của bị cáo được UBND xã Đ, huyện P tặng có thành tích xuất sắc trong việc đóng góp xây dựng nông thôn mới năm 2022; 01 Giấy truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt nam Anh hùng bà Nguyễn Thị Ư (bà nội bị cáo); 02 Giấy tổ quốc ghi công liệt sĩ Nguyễn Văn T5 và liệt sĩ Nguyễn Văn D (chú ruột bị cáo); tại đơn xin giảm án của bị cáo có xác nhận chính quyền địa phương là hiện nay bị cáo đang thờ cúng Bà mẹ Việt Nam anh hùng và 02 chú ruột là liệt sĩ; bị hại Trần Văn Q có đơn và tại phiên toà phúc thẩm tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo; sau phiên toà sơ thẩm bị cáo tiếp tục tự nguyện bồi thường cho bị hại Q 30.000.000 đồng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt như sau: Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự, giảm hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt và có ích cho xã hội.
[4] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
5
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Trường T, sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang về hình phạt như sau:
1. Căn cứ Điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”, thử thách 05 năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (16/9/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Trường T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện P, thành phố Hà Nội nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Trong thời gian thử thách của án treo nếu bị cáo Nguyễn Trường T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đôi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (16/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Ngọc Thức |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Ngọc Thức |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Xuân Thuỷ Ma Hồng Thắng |
Triệu Ngọc Thức |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Triệu Ngọc Thức |
Bản án số 31/2024/HS - PT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 31/2024/HS - PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo
