Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Thế Tương

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Đức Minh, ông Đặng Võ Luyện và bà Hoàng Thị Len

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Dung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Lê Bình Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS, ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Ngô Văn T, sinh ngày 09/9/1983;

Nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Ngô Duy V và bà Nguyễn Thị S; Có vợ là Nguyễn Thị L (là bị hại trong vụ án) và 02 con, con lớn sinh ngày 04/7/2006, con nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án: Không. Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 ngày 06/3/2023 của Công an xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình xử phạt hành chính hình thức cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Nhân thân: Bản án số 38/HSST ngày 21/9/2007 Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Đánh bạc, phạt bổ sung 5.000.000 đồng, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt. Bị cáo đang điều trị cai nghiện ma túy bằng phương pháp uống Methadone tại Trung tâm y tế huyện Q. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/8/2023, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, (Trích xuất có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn H - Văn phòng L2, Đoàn luật sư tỉnh T. (Có mặt)

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 (Đã chết).

* Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Ông Nguyễn Ngọc S1, sinh năm 1958 (là bố chị L).

- Bà Đoàn Thị L1, sinh năm 1964 (là mẹ chị L).

Đều cư trú tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. (Ông S1 có mặt, bà L1 vắng mặt)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Cháu Ngô Quốc T1, sinh ngày 04/7/2006. (là con chị L).

- Cháu Ngô Quốc Đ, sinh năm 2017. (là con chị L).

Người đại diện hợp pháp của hai cháu T1 và Đ: Ông Nguyễn Ngọc S1 và bà Đoàn Thị L1. (Có mặt cháu T1, vắng mặt cháu Đ1)

Đều có nơi cư trú tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

- Ông Ngô Duy V, sinh năm 1959. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng:

Bà: Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1952; Anh: Trần Văn Q, sinh năm 1983; Ông: Hoàng Đình N, sinh năm 1968. Đều có nơi cư trú tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình. (Bà Đ2, ông N, anh Q đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngô Văn T và chị Nguyễn Thị L là vợ chồng và có 02 con chung là Ngô Quốc T1 và Ngô Quốc Đ. Tự nghiện ma túy và đang điều trị cai nghiện Hêrôin bằng phương pháp uống Methadone tại Trung tâm y tế huyện Q. Chiều ngày 04/8/2023, T ra cánh đồng thôn Phương Quả N1 đào cây bàng mang về nhà với ý định trồng ở cạnh nhà nhưng chị L can ngăn, không đồng ý nên vợ chồng xảy ra mâu thuẫn cãi nhau. Khoảng 7 giờ ngày 05/8/2023, khi ngủ dậy thì T và chị L tiếp tục cãi nhau về việc trồng cây bàng trước cửa nhà, T nói “Mày không xuống thang tao đâm chết mày”, chị L nói “cái loại mày đâm được ai, cái loại ăn bám”. Tự bực tức nhưng do phải đi uống Methdone tại Trung tâm y tế huyện Q nên trước khi đi T nói với L “Tí về tao giết mày”. Khoảng 08 giờ cùng ngày, T đi uống Methadone về, lúc này ở nhà T có bà S (mẹ đẻ T), bà L1 (mẹ vợ T) đang nói chuyện với chị L cùng cháu Ngô Trọng Đ3. Khoảng 9 giờ 30 phút thì bà S và bà L1 về, T tiếp tục cãi nhau với chị L. T bảo chị L đóng cửa quán lại, vào trong nhà nói chuyện để mọi người không biết vợ chồng cãi nhau. Sau khi đóng cửa quán, trong nhà có T, chị L và cháu Đ3, hai vợ chồng tiếp tục cãi nhau. Tự yêu cầu chị L gọi điện thoại cho ông Nguyễn Ngọc S1 (là bố đẻ chị L) yêu cầu trả lại số tiền 50.000.000 đồng mà vợ chồng T đã gửi ông S1 trước đó nhưng chị L không gọi. T chạy ra chỗ xe máy Vision dựng ở cửa phụ nhà, mở cốp xe lấy 01 con dao bầu (loại dao bằng kim loại, mũ nhọn), cầm dao ở tay phải đi vào trong nhà. Thấy chị L đang ngồi ở ghế, T dùng tay trái túm tóc lôi chị L ra giữa nhà, ấn chị L quỳ gối xuống đất. Tự giơ dao trước mặt chị L và nói “Mày xin lỗi tao không tao đâm chết mày”. Chị L chắp hai tay trước ngực và nói “Em xin lỗi anh”. T bỏ chị L ra và cầm dao đi xuống khóa cửa sau thông ra vườn. Khi T đang khoá cửa thì chị L mở cửa trước chạy ra ngoài đường, T cầm dao bầu bằng tay phải đuổi theo chị L. Chị L chạy đến khu vực cổng nhà bà Nguyễn Thị Đ2 (đối diện nhà chị L) thì bị trượt chân ngã nằm úp xuống sân nhà bà Đ2. Tự chạy đến đứng phía trước chị L, dùng tay trái túm tóc chị L kéo lên, chị L ở trong tư thế quỳ đối diện với T. T dùng dao đang cầm ở tay phải đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng cổ, ngực, bụng của chị L làm chị L ngã gục xuống sân. Sau đó, T cầm dao đi vào trong phòng ngủ nhà T khóa trái cửa lại. Chị L được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Q và được xác định đã tử vong ngoài Bệnh viện.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 1192/KLGĐTTT-KTHS ngày 20/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Nguyễn Thị L: Ngừng tuần hoàn do vết thương thấu tim, phổi, gan..

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã trưng cầu giám định pháp y về tâm thần đối với Ngô Văn T. Tại Bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 58/KLGD ngày 19/02/2024 của V1 kết luận: “Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội Ngô Văn T có hội chứng nghiện chất có thuốc phiện. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F11.2. Tại thời điểm giám định Ngô Văn T có hội chứng nghiện chất có thuốc phiện, nhưng hiện đang cai trong môi trường được bảo vệ. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F11.2. Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về kết luận định giá nêu trên.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKSTB ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Ngô Văn T về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận: Do bực tức vì bị chị L không cho trồng cây bàng và bị vợ thách thức, coi thường nên trong lúc nóng giận bị cáo đã dùng dao bầu lấy từ trong cốp xe máy đâm nhiều nhát vào người chị L tại ngõ nhà bà Đ2 – đối diện nhà bị cáo. Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cơ hội để được về chăm lo cho các con còn nhỏ.

Ông Nguyễn Ngọc S1 trình bày: Bị cáo là con rể ông, ông không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản gì cho bị hại, không yêu cầu bị cáo phải cấp dưỡng nuôi 02 cháu T1 và Đ3, ông đề nghị cần xử phạt bị cáo hình phạt tù không thời hạn để răn đe và giáo dục bị cáo.

Luận tội của Kiểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm như đã truy tố với bị cáo về tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng. Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Giết người”.

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 50; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 39 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Văn T tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì cho bị hại, không yêu cầu bị cáo phải cấp dưỡng cho cháu T1 và cháu Đ3.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao là công cụ bị cáo thực hiện việc phạm tội, 01 con dao người dân sử dụng để cắt quần áo khi cứu chữa bị hại và một số tài sản là quần áo của bị hại và quần áo của người dân sử dụng khi cứu chữa bị hại.

Luật sư trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Luật sư không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo T nhất trí với lời bào chữa của Luật sư, không bổ sung tranh luận gì thêm.

Ông Nguyễn Ngọc S1 không tranh luận gì, đề nghị xử phạt bị cáo hình phạt tù không thời hạn để giáo dục bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Tại phiên toà, bị cáo Ngô Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; truy tố, phù hợp với lời khai của cháu Ngô Quốc Đ và những người làm chứng và còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ, bản ảnh hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, các Bản kết luận giám định của V2 Bộ C và Phòng K Công an tỉnh T cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

[3] Như vậy đủ căn cứ để xác định: Xuất phát từ mâu thuẫn cãi vã nhỏ nhặt trong cuộc sống giữa hai vợ chồng, khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/8/2023 tại nhà ở của mình tại thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Ngô Văn T đã có hành vi dùng một con bầu đe dọa giết vợ là chị Nguyễn Thị L. Chị L hoảng sợ bỏ chạy sang nhà hàng xóm đối diện, T cầm dao đuổi theo. Thấy chị L bị trượt ngã nằm úp xuống sân nhà hàng xóm, T chạy đến dùng tay trái túm tóc, kéo chị L lên trong tư thế quỳ đối diện, tay phải cầm dao bầu đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng cổ, ngực, bụng chị L khiến chị L ngã gục xuống sân. Hậu quả chị L tử vong trên đường đi cấp cứu, nguyên nhân chết ngừng tuần hoàn do vết thương thấu tim, phổi, gan. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tính mạng của người khác được pháp luật đặc biệt bảo vệ, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được tính chất, mức độ, hậu quả nghiêm trọng đối với hành vi dùng hung khí nguy hiểm đâm vào những vùng trọng yếu của người khác sẽ gây thiệt hại về tính mạng nhưng bị cáo vẫn thực hiện, hậu quả làm chị L bị chết trên đường đi cấp cứu. Bị hại đồng thời là vợ bị cáo không có mâu thuẫn gì nghiêm trọng, chỉ vì can ngăn không cho bị cáo trồng cây bàng mà bị cáo đã tước đoạt tính mạng của chị L bằng nhiều nhát dao, do đó hành vi của bị cáo được xác định là có tính chất côn đồ theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là đúng pháp luật.

Điều 123: Tội Giết người.

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

n) Có tính chất côn đồ;

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của công dân, mà cụ thể đã giết hại chính là người vợ của mình đáng ra phải được yêu thương chăm sóc, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, bị cả xã hội lên án. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội đánh bạc, có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hiện đang điều trị cai nghiện ma túy bằng phương pháp uống Methadone. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội không thời hạn để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời là bài học răn đe, phòng ngừa tội phạm. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ bị cáo là ông Ngô Duy V đã trực tiếp bỏ toàn bộ số tiền để lo ma chay, hậu sự cho bị hại, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì, người đại diện hợp pháp của cháu T1 và cháu Đ không yêu cầu bị cáo phải cấp dưỡng cho hai cháu. Hội đồng xét xử xét thấy việc không yêu cầu trên là sự tự nguyện nên cần ghi nhận.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã quản lý 01 con dao là công cụ bị cáo thực hiện việc phạm tội, 01 con dao người dân sử dụng để cắt quần áo khi cứu chữa bị hại và một số tài sản là quần áo của bị hại và quần áo của người dân sử dụng khi cứu chữa bị hại. Xét những vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Ngô Văn T phạm tội “Giết người”.

2. Hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, Điều 39, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử bị cáo Ngô Văn T tù chung thân, thời hạn tù tính từ ngày 05/8/2023.

3. Trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của đại diện hợp pháp của bị hại, đại diện hợp pháp của cháu T1 và Đ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì cho bị hại, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu T1 và cháu Đ.

4. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ:

- 02 con dao đựng trong một hộp niêm phong, bên ngoài có 04 dải niêm phong dán tại các vị trí giáp lai trên dải niêm phong có dòng chữ ghi “Mẫu vật hoàn trả kèm theo kết luận giám định số 5846/KL-KTHS ngày 08 tháng 9 năm 2023” và dòng chữ “Hai con dao ghi thu tại hiện trường”, bên dưới có chữ ký, chữ viết của Phạm Quỳnh N2 và Nguyễn Văn D và có đóng dấu đỏ của V2 - Bộ C.

- 01 áo sơ mi ngắn tay màu trắng, 01 bộ quần lửng màu vàng; 01 áo màu vàng đã bị rách, 01 quần lót màu nâu, 01 áo chống nắng màu xanh họa tiết, 01 bên của coocse màu trắng, 02 khăn tay màu xanh, 01 áo sơ mi dài tay chấm trắng thu trên bệ đá gần nơi đặt tử thi, 01 quần dài dây chun màu xanh thu trên tử thi, 01 áo chống nắng nền đỏ họa tiết trắng thu trên tử thi, 01 bên coocse màu trắng thu trên bệ đá gần nơi đặt tử thi.

(Vật chứng trên có đặc điểm như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; NQ 326/2016/UBTVQH 14 về Án phí, Lệ phí Tòa án: Bị cáo Ngô Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng
  • - VKSND tỉnh Thái Bình
  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội
  • - Cục THADS tỉnh Thái Bình
  • - Cơ quan điều tra CA tỉnh Thái Bình
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh Thái Bình
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Ngô Thế Tương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về vụ án hình sự về tội giết người

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger