|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày 16 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thành Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Danh.
Ông Thạch Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quyền Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/HSST-QĐ ngày 27 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Lâm Huỳnh, sinh ngày 31-12-1990, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Khmer (Khơ me); Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm M, sinh năm 1973 và bà Quách Thị H, sinh năm 1970; Vợ tên Thạch Thị Ngọc G, sinh năm 1993 và có 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Vào ngày 15-8-2023 bị Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 18-01-2024 cho đến nay.
- Danh Phol (Phây), sinh ngày 14-7-1995, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Khmer (Khơ me); Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Danh Linh Đ, sinh năm 1971 và bà Danh Thị Chanh T, sinh năm 1977; Vợ tên Lý Thị N, sinh năm 2004 và có 01 con sinh năm 2022; Tiền án:
2
Không; Tiền sự: Vào ngày 28-3-2023 bị Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, nộp phạt ngày 07-4-2023; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 18-01-2024 cho đến nay.
Về nhân thân: Ngày 21-01-2014, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11-11-2018, đã được xóa án tích. Ngày 05-12-2023, bị Công an thành phố S, tỉnh Sóc Trăng quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 5.000.000 đồng về hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt.
- Thạch L, sinh ngày 01-01-1984, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Khmer (Khơ me); Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch S (không rõ năm sinh) và bà Thạch Thị Sà V, sinh năm 1962; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 18-01-2024 cho đến nay.
Về nhân thân: Ngày 21-01-2014, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 11-8-2018, đã được xóa án tích.
- Sơn Sung, sinh ngày 01-01-1987, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Khmer (Khơ me); Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch S1 (không rõ năm sinh) và bà Sơn Thị H1, sinh năm 1966; Vợ tên Dương Thị Ngọc T1, sinh năm 1989 và có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-01-2024 cho đến nay.
Người bào chữa cho bị cáo Sơn S2: Ông Nguyễn Vũ P – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý và bà Lê Thị Trúc L1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Địa chỉ liên hệ: Số A, Đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Thạch Minh H2 (T2), sinh ngày 07-10-1996, tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Khmer (Khơ me); Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch T3, sinh năm 1968 và bà Lý Thị Sóc K, sinh năm 1966; Vợ tên Danh Thị H3, sinh năm 2002 và có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-01-2024 cho đến nay.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Bị hại:
3
- Công ty TNHH MTV Q1. Địa chỉ trụ sở: Đường N, Khu công nghiệp A, ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Ngọc Q, chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1: Bà Huỳnh Ngọc H4, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số A, đường số A, Khu dân cư T, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Trung tâm Giống nông nghiệp. Địa chỉ trụ sở: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Nam T4, chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của Trung tâm G1 nông nghiệp: Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1974. Địa chỉ nơi làm việc: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Bà Sơn Ngọc A, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị M1, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lâm H5, Danh P1, Thạch L, S, Thạch Minh H2 là những đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, vì muốn có tiền tiêu xài, trong khoảng thời gian từ tháng 6-2023 đến tháng 11-2023, các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ ngày 22-6-2023, bị cáo H5 với bị cáo L đi vào ao hoang trong Trung tâm Giống nông nghiệp thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng câu cá. Trong lúc câu cá, bị cáo L phát hiện và nói với bị cáo H5 dây điện hệ thống đèn chiếu sáng xung quanh ao cá của Trung tâm Giống nông nghiệp có một đầu bị cắt đứt nằm dưới đất, đầu còn lại còn trên cột điện. Bị cáo Huỳnh nảy s ý định lấy trộm dây điện nên nói với bị cáo L: “chiều nay mình mua đồ cắt dây điện này đem bán, mình chia tiền nhau xài” thì bị cáo L đồng ý. Trên đường về, bị cáo L đưa cho bị cáo H5 số tiền 100.000 đồng, bị cáo Huỳnh h số tiền 280.000 đồng để mua cây kìm cộng lực số tiền 380.000 đồng, rồi đem về nhà cất. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo H5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 60K7-0384 đến nhà, chở bị cáo L vào Trung tâm Giống nông nghiệp. Tại đây, bị cáo Huỳnh t lên cột điện, dùng cây kìm công lực cắt đứt 03 sợi dây điện màu đen, bị cáo L đứng ở dưới cuộn dây điện lại thành cuộn, bỏ vào bao rồi cả hai đem dây điện để lên xe, điều khiển xe về nhà, trên đường về bị Công an xã T tuần tra phát hiện, tạm giữ tang vật liên quan.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 43/KL-HĐĐG ngày 04-12-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh
4
Sóc Trăng kết luận: Tại thời điểm ngày 22-6-2023, 111m dây điện (03 sợi, mỗi sợi dài 37m) phần vỏ ngoài bằng nhựa màu đen, có lõi bằng kim loại màu đỏ, đơn giá 540.000 đồng/m, nguyên giá là 59.940.000 đồng, tỷ lệ chất lượng còn lại 15%, giá trị còn lại 8.991.000 đồng.
- Vụ thứ hai: Vào ngày 10-8-2023, do không có tiền tiêu xài, biết kho Ngọc T5 thuộc Công ty TNHH MTV Q1 trong khu Công nghiệp A tại ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng không có hoạt động, không có người trông giữ nên bị cáo Huỳnh r các bị cáo P1, S2 đi vào cắt trộm dây điện có lõi bằng đồng đem bán lấy tiền tiêu xài thì các bị cáo P1, S2 đồng ý. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo H5 điện thoại hỏi bị cáo S2 có đi không, bị cáo S2 trả lời có và bị cáo S2 đi với bị cáo H2. Sau đó, bị cáo S2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65N1-4633 chở bị cáo H2 đến bờ đê phía sau Công ty xử lý nước thải, ngồi đợi bị cáo H5. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 11-8-2023, bị cáo H5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 83FC - 9373 chở bị cáo P1 đến bờ đê phía sau Công ty xử lý nước thải thì gặp các bị cáo S2, H2. Sau đó, các bị có H5, P1, S2, H2 đi bộ đến kho Ngọc T5, trèo tường rào vào bên trong, bị cáo Huỳnh t lên máng treo dây điện dùng cây kìm cộng lực cắt dây điện nhưng do dây điện to bị cáo Huỳnh chỉ cắt đứt được 01 sợi thì bị cáo S2 trèo lên cắt tiếp và cắt được 03 sợi dây điện rơi xuống. Lúc này, bị cáo P1 dùng cây kìm cắt dây điện thành đoạn ngắn, bị cáo P1 và bị cáo H2 cuộn dây điện lại thành 04 cuộn, mỗi bị cáo vác 01 cuộn ra ngoài. Sau khi vác dây điện đến bờ đê phía sau Công ty xử lý nước thải các bị cáo cùng nhau dùng dao tách vỏ dây điện, quấn lõi dây điện thành 05 cuộn. Lúc này trời gần sáng nên bị cáo H5 điều khiển xe chở bị cáo P1 về nhà tắm để sáng quay lại mang dây điện đi bán, còn bị cáo S2, H2 ở lại giữ dây điện. Trong lúc đợi bị cáo H5 quay lại thấy bảo vệ Khu công nghiệp và Công an xã A đi đến, sợ bị phát hiện nên bị cáo S2, H2 bỏ đi về, lõi dây điện bị Công an xã A thu giữ. Đến ngày 15-8-2023, bị cáo H5 vào kho Ngọc Thu cắt trộm dây điện bị lực lượng Công an xã A phát hiện, mời làm việc, bị cáo H5 khai nhận 05 cuộn lõi dây điện Công an xã A thu giữ ngày 11-8-2023 do bị cáo H5 và các bị cáo P1, S2, H2 cắt trộm tại kho Ngọc T5.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 44/KL-HĐĐG ngày 05-12-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng kết luận: Tại thời điểm ngày 11-8-2023, 17,55m dây điện có lõi bằng đồng, kích thước 300mm, đơn giá 1.400.000 đồng/m, nguyên giá 24.570.000 đồng, tỷ lệ chất lượng còn lại 35%, giá trị còn lại 8.599.500 đồng; 35,90m dây điện có lõi bằng đồng, kích thước 400mm, đơn giá 1.600.000 đồng/m, nguyên giá 57.440.000 đồng, tỷ lệ chất lượng còn lại 35%, giá trị còn lại 20.104.000 đồng. Tổng cộng 28.703.500 đồng.
- Vụ thứ ba: Vào khoảng 08 giờ ngày 21-11-2023, bị cáo H5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94N1-1689 đi giăng lưới bắt cá ở Kênh B thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, trong lúc giăng lưới bị cáo Huỳnh n thấy nhà bị hại Anh khóa cửa, không có ai trông giữ, phía sau nhà có một chuồng vịt, trong chuồng có
5
01 con gà trống có lông màu trắng và 03 con ngỗng lớn nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo Huỳnh đi vào chuồng vịt, bắt 01 con gà trống lông màu trắng đem về nhà. Lúc này, bị cáo L đến nhà bị cáo Huỳnh c, thấy con gà trống, bị cáo L nói với bị cáo H5 để bị cáo L đem về dưỡng để dành đi đá thì bị cáo H5 đồng ý. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, bị cáo H5 thấy bị cáo P1 đi đến, bị cáo H5 nói với bị cáo P1 “có cái chòi khóa cửa bỏ, không có ai, có mấy con ngỗng mày đi lại đó bắt ngỗng với tao” thì bị cáo P1 đồng ý. Sau đó, bị cáo H5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 94N1-1689 chở bị cáo P1 đến nhà bị hại A. Tại đây, bị cáo Huỳnh 1 cái bao nylon màu trắng ở bụi tre, cùng bị cáo P1 đi vào chuồng bắt 03 con ngỗng bỏ vào bao rồi điều khiển xe chở bị cáo P1 đến chợ B bán 03 con ngỗng cho bà M1 được số tiền 550.000 đồng, chia nhau mỗi bị cáo được số tiền 270.000 đồng, còn lại 10.000 đồng mua nước cùng nhau uống. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, bị hại Anh phát hiện bị mất tài sản, đến Công an xã P trình báo sự việc, Công an xã P mời bị cáo H5, P1 làm việc và tạm giữ các tang vật có liên quan.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐG ngày 04-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng, kết luận: Tại thời điểm ngày 21-11-2023, 03 con ngỗng tổng cân nặng 12,2kg (chưa thu hồi được), đơn giá 80.000 đồng/kg, thành tiền 976.000 đồng; 01 con gà trống, cân nặng 2,7kg (thu hồi được), đơn giá 100.000 đồng/kg, thành tiền 270.000 đồng. Tổng cộng 1.246.000 đồng.
- Về vật chứng của vụ án: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C tạm giữ:
Lõi dây điện màu vàng đồng, cắt thành nhiều đoạn, nhiều kích thước khác nhau, tổng trọng lượng 133kg; vỏ dây điện màu đen trắng, cắt thành nhiều đoạn, nhiều kích thước khác nhau, tổng trọng lượng 42kg.
Tạm giữ của bị cáo H5: Số tiền Việt Nam 270.000 đồng; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 60K7-0384, màu nâu, số loại Dream, xe đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83FC-9373, màu vàng, không rõ nhãn hiệu, không rõ số khung, số máy, xe đã qua sử dụng, hư hỏng trầy xướt nhiều nơi; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 94N1-1689, nhãn hiệu KITAFU, màu xám đen, số máy VDELC150FMGB901243, số khung VDEWCG085DE901243,; 01 (một) đầu đèn màu xanh, trên vỏ có dòng chữ “UY Danh”; 03 (ba) sợi dây điện màu đen, lõi bằng kim loại màu đỏ, kích thước mỗi sợi 37 mét, tổng trọng lượng 32kg; 01 (một) kìm cộng lực, có tổng chiều dài 60cm, lưỡi kìm bằng kim loại, màu xám dài 14cm, cán kìm bằng kim loại được sơn màu xanh, một đầu cán kìm được bọc nhựa màu đen, dài 46cm; 01 (một) đèn pin màu hồng, nhãn hiệu DP-7236A Made in China, kích thước 08cm x 09cm; 01 (một) cây dao có tổng chiều dài 42cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm, trên cán dao có 01 khoen tròn, lưỡi dao bằng kim loại màu xám, dài 28cm, có một bề sắc bén, lưỡi dao nhọn; 01 (một) bình xịt hơi cay, nhãn hiệu NATO, thể tích 110ml, đã qua sử dụng; 01 (một) đoạn dây điện dài 170cm, vỏ
6
dây điện màu đen, lõi dây điện màu vàng đồng, đường tròn lớn nhất của dây điện là 10,5cm.
Tạm giữ của bị cáo P1: 01 (một) đèn pin, loại đèn pin đội đầu, màu đen, không nhãn hiệu, kích thước 7cm x 7,5cm.
Tạm giữ của bị cáo S2: 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 65N1-4633, loại Wave S, màu xanh đen, không rõ số máy, số khung, xe đã qua sử dụng, hư hỏng trầy xướt nhiều nơi.
Tạm giữ của bị cáo H2: 01 (một) đèn pin, loại đèn pin đội đầu, màu đen, không nhãn hiệu, kích thước 7,5cm x 7,5cm.
Tạm giữ của bị hại Anh: 01 đĩa DVD, bên trong có chứa: đoạn MP4File tên file 21112023, trích xuất ngày 21/11/2023, sao lưu ngày 26-11-2023, dung lượng 5,234KB; đoạn MP4File tên 6545713241851367214, trích xuất ngày 22-11-2023, sao lưu ngày 26-11-2023, dung lượng 1,895KB.
Tại giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã quyết định xử lý vật chứng:
Trả lại cho Trung tâm G2 (ba) sợi dây điện màu đen, lõi bằng kim loại màu đỏ, kích thước mỗi sợi 37 mét, tổng trọng lượng 32kg. Trả lại cho Công ty TNHH MTV Q1: Lõi dây điện màu vàng đồng, cắt thành nhiều đoạn, nhiều kích thước khác nhau, tổng trọng lượng 133kg; vỏ dây điện màu đen trắng, cắt thành nhiều đoạn, nhiều kích thước khác nhau, tổng trọng lượng 42kg; 01 đoạn dây điện dài 170cm, vỏ dây điện màu đen, lõi dây điện màu vàng đồng, đường tròn lớn nhất của dây điện là 10,5cm.
Đối với số tiền Việt Nam 270.000 đồng, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã gửi Kho bạc Nhà nước huyện C để bảo quản theo biên bản giao nhận tài sản số 12/2024/BBBG-CA ngày 19-3-2024.
Đối với 01 đĩa DVD, bên trong có chứa đoạn MP4File tên file 21112023, trích xuất ngày 21/11/2023, sao lưu ngày 26-11-2023, dung lượng 5,234KB; đoạn MP4File tên 6545713241851367214, trích xuất ngày 22-11-2023, sao lưu ngày 26-11-2023, dung lượng 1,895KB Cơ quan điều tra Công an huyện C tiếp tục tạm giữ, chuyển theo hồ sơ vụ án.
Đối với các vật chứng còn lại Cơ quan điều tra Công an huyện C tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Về trách nhiệm dân sự: Tại giai đoạn điều tra, Công ty TNHH MTV Q1 yêu cầu các bị cáo H5, P1, S2, H2 bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 82.010.000 đồng, các bị cáo H5, P1, S2, H2 đồng ý nhưng chưa bồi thường; Trung tâm Giống nông nghiệp không yêu cầu các bị cáo H5, L bồi thường; bị hại Anh yêu cầu các bị cáo H5, P1 bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 976.000 đồng, các bị cáo H5, P1 đồng ý nhưng chưa bồi thường.
7
- Tại Cáo trạng số: 26/CT-VKS-CT ngày 10-5-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo H5, P1, L, S2, H2 tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tại phiên tòa sơ thẩm:
Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo H5, P1, L, S2, H2. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố các bị cáo H5, P1, L, S2, H2 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm g Khoản 1 Điều 52, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Khoản 1 Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo H5, xử phạt bị cáo H5 từ 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù đến 03 (ba) năm tù;
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm g Khoản 1 Điều 52, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Khoản 1 Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo P1, xử phạt bị cáo P1 từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Khoản 1 Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo L, xử phạt bị cáo L từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Áp dụng Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Khoản 1 Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo S2 và bị cáo H2, xử phạt bị cáo S2 và bị cáo H2 mỗi bị cáo mức hình phạt từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Trung tâm Giống nông nghiệp không yêu cầu các bị cáo H5, L bồi thường nên không xem xét giải quyết. Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1 yêu cầu các bị cáo H5, P1, S2, H2 bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 28.703.500 đồng, các bị cáo H5, P1, S2, H2 đồng ý, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 7.175.875 đồng; bị hại Anh yêu cầu các bị cáo H5, P1 bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 976.000 đồng, các bị cáo H5, P1 đồng ý, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 488.000 đồng. Như vậy, giữa các bị cáo H5, P1, S2, H2 và người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1; giữa các bị cáo H5, P1 và bị hại Anh đã thống nhất, thỏa thuận được với nhau về bồi thường thiệt hại về tài sản, sự thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng
8
hình sự năm 2015:
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà Nước đối với các công cụ, phương tiện phạm tội còn giá trị sử dụng, tiền do phạm tội mà có gồm: Số tiền Việt Nam 270.000 đồng; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 60K7-0384, màu nâu, số loại Dream, xe đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83FC-9373, màu vàng, không rõ nhãn hiệu, không rõ số khung, số máy, xe đã qua sử dụng, hư hỏng trầy xướt nhiều nơi; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 94N1-1689, nhãn hiệu KITAFU, màu xám đen, số máy VDELC150FMGB901243, số khung VDEWCG085DE901243; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 65N1-4633, loại Wave S, màu xanh đen, không rõ số máy, số khung, xe đã qua sử dụng, hư hỏng trầy xướt nhiều nơi.
Tịch thu tiêu hủy đối với công cụ, phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng hoặc không sử dụng được gồm: 01 (một) đầu đèn màu xanh, trên vỏ có dòng chữ “UY Danh”; 01 (một) kìm cộng lực, có tổng chiều dài 60cm, lưỡi kìm bằng kim loại, màu xám dài 14cm, cán kìm bằng kim loại được sơn màu xanh, một đầu cán kìm được bọc nhựa màu đen, dài 46cm; 01 (một) đèn pin màu hồng, nhãn hiệu DP-7236A Made in China, kích thước 08cm x 09cm; 01 (một) cây dao có tổng chiều dài 42cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm, trên cán dao có 01 khoen tròn, lưỡi dao bằng kim loại màu xám, dài 28cm, có một bề sắc bén, lưỡi dao nhọn; 01 (một) bình xịt hơi cay, nhãn hiệu NATO, thể tích 110ml, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn pin, loại đèn pin đội đầu, màu đen, không nhãn hiệu, kích thước 7cm x 7,5cm; 01 (một) đèn pin, loại đèn pin đội đầu, màu đen, không nhãn hiệu, kích thước 7,5cm x 7,5cm.
Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 đĩa DVD, bên trong có chứa: đoạn MP4File tên file 21112023, trích xuất ngày 21/11/2023, sao lưu ngày 26-11-2023, dung lượng 5,234KB; đoạn MP4File tên 6545713241851367214, trích xuất ngày 22-11-2023, sao lưu ngày 26-11-2023, dung lượng 1,895KB.
Bị cáo H5, P1, L, H2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo H5, P1, L, H2 xin lỗi bị hại, xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo S2 thống nhất tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo S2. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết vai trò bị cáo S2 không phải là người rủ rê bị cáo H2, phạm tội lần đầu, chưa được hưởng lợi về tài sản, đồng phạm giản đơn, xử phạt bị cáo S2 mức hình phạt khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị; ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo S2 và các bị cáo khác về bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại và cho bị cáo được miễn toàn bộ án phí sơ thẩm.
Bị cáo S2 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố; thống nhất với luận tội của đại diện Viện kiểm sát; thống nhất với luận cứ bào chữa của người bào chữa và không trình bày tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng, bị cáo
9
S2 xin giảm nhẹ hình phạt do phạm tội lần đầu, biết hành vi của mình là sai.
Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1 thống nhất Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo H5, P1, S2, H2; yêu cầu các bị cáo H5, P1, S2, H2 bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 28.073.500 đồng và xử phạt các bị cáo theo quy định pháp luật.
Bị hại Anh thống nhất với Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo H5, P1; yêu cầu các bị cáo H5, P1 bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 976.000 đồng và xử phạt các bị cáo theo quy định pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của Trung tâm G3 truy tố đối với các bị cáo H5, L; không yêu cầu các bị cáo H5, L bồi thường và xử phạt các bị cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại nên các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Đặng Thị M1 vắng mặt. Các bị cáo, người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa yêu cầu tiếp tục xét xử. Kiểm sát viên đề nghị vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, bà M1 đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, vắng mặt không có lý do và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc bà M1 vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo H5, P1, L, S2, H2, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo H5, P1, L, S2, H2 thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng hành vi phạm tội, không oan sai; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá về tài sản và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ để Hội đồng xét xử xác định:
10
[4] Vào khoảng 21 giờ ngày 22-6-2023, tại Trung tâm Giống nông nghiệp thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng bị cáo H5 đã rủ rê bị cáo L thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 111m dây điện vỏ ngoài bằng nhựa màu đen, có lõi bằng kim loại màu đỏ của Trung tâm Giống nông nghiệp có giá trị còn lại là 8.991.000 đồng; vào khoảng 01 giờ ngày 11-8-2023, tại kho Ngọc T5 thuộc Công ty TNHH MTV Q1 thuộc ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng bị cáo H5 đã rủ rê bị cáo P1, S2; bị cáo S2 rủ rê bị cáo H2 thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 17,55m dây điện có lõi bằng đồng, kích thước 300mm và 35,9m dây điện có lõi bằng đồng, kích thước 400mm tại kho Ngọc Thu thuộc Công ty TNHH MTV Q1 có giá trị còn lại là 28.703.500 đồng; vào khoảng 08 giờ ngày 21-11-2023, tại nhà bị hại Anh thuộc ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng bị cáo H5 đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 con gà trống lông màu trắng của bị hại Anh có giá trị là 270.000 đồng và khoảng 09 giờ cùng ngày, bị cáo H5 rủ rê bị cáo P1 thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 03 con ngỗng của bị hại Anh có giá trị là 976.000 đồng.
[5] Tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”.
“a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b)...”.
[6] Đối chiếu với quy định viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy, các bị cáo H5, P1, L, S2, H2 là người đã thành niên, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, các bị cáo đã lợi dụng đêm khuya, lợi dụng sự sơ hở trong việc quản lý tài sản của bị hại, bị cáo H5 và bị cáo L đã thống nhất cùng nhau lén lút chiếm đoạt tài sản của Trung tâm Giống nông nghiệp có giá trị còn lại là 8.991.000 đồng (trên 2.000.000 đồng); bị cáo H5 và các bị cáo P1, S2, H2 đã thống nhất cùng nhau lén lút chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH MTV Q1 có giá trị còn lại là 28.703.500 đồng (trên 2.000.000 đồng); bị cáo H5 đã lén lút chiếm đoạt của bị hại Anh 01 con gà trống lông màu trắng giá trị là 270.000 đồng, các bị cáo H5, P1 thống nhất cùng nhau lén lút chiếm đoạt của bị hại Anh 03 con ngỗng giá trị là 976.000 đồng, giá trị tài sản bị cáo H5, P1 chiếm đoạt lần này dưới 2.000.000 đồng, nhưng các bị cáo H5, P1 đều bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính mà còn vi phạm nên hành vi này của bị cáo H5, P1 đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, hành vi của các bị cáo H5, P1, L, S2, H2 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
11
[7] Như vậy, Cáo trạng số: 26/CT-VKS-CT ngày 10-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố các bị cáo H5, P1, L, S2, H2 tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[8] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần xử phạt các bị cáo thật nghiêm để các bị cáo có thời gian cải tạo, lao động, học tập trở thành công dân biết tôn trọng, chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
[9] Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ, không có sự phân công vai trò cụ thể cho từng người nên là đồng phạm giản đơn, vai trò của từng bị cáo như sau:
Đối với bị cáo H5: Bị cáo Huỳnh giữ vai trò chính trong vụ án với vai trò là người khởi xướng, rủ rê và thực hành tích cực trong cả 03 lần thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể: Vào ngày 22-6-2023, bị cáo rủ rê bị cáo L chiếm đoạt tài sản của Trung tâm Giống nông nghiệp, bị cáo chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội, bị cáo trực tiếp cắt trộm dây điện, cùng bị cáo L đem tài sản về nhà, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị còn lại là 8.991.000 đồng. Vào ngày 11-8-2023 bị cáo rủ rê các bị cáo P1, Sung chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH MTV Q1, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội, trực tiếp thực hiện hành vi cắt dây điện, tách vỏ dây điện, vác dây điện đem ra ngoài và cùng các bị cáo khác tách vỏ lấy lõi đồng để bán, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị còn lại 28.703.500 đồng. Vào ngày 21-11-2023, bị cáo trực tiếp hành vi chiếm đoạt 01 con gà trống lông màu trắng của bị hại Anh có giá trị 270.000 đồng; rủ rê bị cáo P1 thực hiện hành vi chiếm đoạt 03 con ngỗng của bị hại Anh, bị cáo chuẩn bị phương tiện, trực tiếp cùng bị cáo P1 bắt trộm 03 con ngỗng của bị hại Anh, bán được số tiền 550.000 đồng, chia đều nhau mỗi bị cáo được số tiền 270.000 đồng, còn lại số tiền 10.000 đồng mua nước cùng nhau uống. Do đó, bị cáo H5 phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án, mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.
Đối với bị cáo P1: Bị cáo P1 đồng phạm cùng các bị cáo H5, S2, H2 với vai trò là người thực hành tích cực trong vụ trộm ngày 11-8-2023; đồng phạm cùng bị cáo H5 với vai trò là người thực hành tích cực trong vụ trộm ngày 21-11-2023, cụ thể: Vào ngày 11-8-2023, bị cáo cùng các bị cáo H5, S2, H2 chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH MTV Q1, bị cáo gom dây điện quấn lại thành cuộn, vác dây điện ra ngoài, tách vỏ dây điện lấy lõi đồng để đem bán, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị còn lại 28.703.500 đồng; ngày 21-11-2023, bị cáo cùng với bị cáo H5 chiếm đoạt 03 con ngỗng của bị hại Anh, bị cáo trực tiếp bắt ngỗng bỏ vào bao, cùng bị cáo H5 đem bán và chia nhau mỗi bị cáo được số tiền 270.000 đồng, còn lại số tiền 10.000 đồng mua nước cùng nhau uống. Do đó, bị cáo phải chịu trách
12
nhiệm về hành vi phạm tội của mình, mức hình phạt thấp hơn bị cáo H5 nhưng cao hơn các bị cáo khác.
Đối với bị cáo L: Bị cáo đồng phạm cùng bị cáo H5 với vai trò là người thực hành trong vụ trộm ngày 22-6-2023, cụ thể: Khi nghe bị cáo H5 rủ rê cắt trộm dây điện thì bị cáo đồng ý, đưa cho bị cáo H5 số tiền 100.000 đồng để mua công cụ là cây kìm cộng lực, sau khi bị cáo Huỳnh c1 được dây điện bị cáo đã gom dây điện quấn lại thành cuộn bỏ vào bao, cùng bị cáo Huỳnh v ra xe chở về để bán, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị còn lại 8.991.000 đồng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chỉ tham gia vụ trộm ngày 22-6-2023 nên mức hình phạt nhẹ hơn bị cáo H5.
Đối với bị cáo S2: Bị cáo S2 đồng phạm cùng các bị cáo H5, P1, H2 với vai trò là người rủ rê và thực hành tích cực trong vụ trộm ngày 11-8-2023, cụ thể: Khi bị cáo H5 điện thoại rủ rê đi cắt trộm dây diện của Công ty TNHH MTV Q1 bị cáo đồng ý và rủ rê bị cáo H2 cùng đi, bị cáo chuẩn bị phương tiện là xe mô tô biển kiểm soát 65N1-4633 chở bị cáo H2, chuẩn bị công vụ là cây kìm cộng lực, đèn pin đội đầu, vác dây điện ra ngoài, trực tiếp cắt trộm dây điện, tách vỏ và quấn dây điện lại thành cuộn để đem bán, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị còn lại là 28.703.500 đồng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chỉ tham gia vụ trộm ngày 11-8-2023 nên mức hình phạt thấp hơn bị cáo H5, P1.
Đối với bị cáo H2: Bị cáo đồng phạm cùng các bị cáo H5, P1, S2 với vai trò là người thực hành tích cực trong vụ trộm ngày 11-8-2023, cụ thể: Khi bị cáo S2 rủ rê bị cáo đi trộm dây điện của Công ty TNHH MTV Q1 thì bị cáo đồng ý, bị cáo đã đưa tiền cho bị cáo S2 mua kìm cộng lực, sau khi các bị cáo khác cắt được dây điện bị cáo gom dây điện quấn lại thành cuộn, cùng vác dây điện ra ngoài, tách vỏ và quấn dây điện lại thành cuộn để cùng đem bán, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị còn lại là 28.703.500 đồng. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình, bị cáo chỉ tham gia vụ trộm ngày 11-8-2023 nên mức hình phạt thấp hơn bị cáo H5, P1.
[10] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng các bị cáo như sau:
Đối với bị cáo H5: Bị cáo H5 có nhân thân xấu, chưa có tiền án, có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, nhận thức còn hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt.
13
Đối với bị cáo P1: Bị cáo P1 có nhân thân xấu, có 01 tiền án đã được xóa án tích về tội “Cướp tài sản”, 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, nhận thức còn hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt.
Đối với bị cáo L: Bị cáo L có nhân thân xấu, có 01 tiền án đã được xóa án tích về tội “Cướp tài sản” và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, nhận thức còn hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt.
Đối với bị cáo S2, H2: Các bị cáo S2, H2 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là người dân tộc thiểu số, trình độ học vấn thấp, nhận thức còn hạn chế nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi quyết định hình phạt.
[11] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1 yêu cầu các bị cáo H5, P1, S2, H2 bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 28.703.500 đồng, các bị cáo H5, P1, S2, H2 đồng ý, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 7.175.875 đồng; bị hại Anh yêu cầu bị cáo H5, P1 bồi thường thiệt hại về tài sản số tiền 976.000 đồng, các bị cáo H5, P1 đồng ý, mỗi bị cáo bồi thường số tiền 488.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy, giữa các bị cáo H5, P1, Sung H6 và người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1, giữa các bị cáo H5, P1 với bị hại Anh đã thỏa thuận được với nhau về việc bồi thường thiệt hại về tài sản, sự thỏa thuận này là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội nên được ghi nhận. Người đại diện hợp pháp của Trung tâm Giống nông nghiệp không yêu cầu các bị cáo H5, L bồi thường nên không xem xét giải quyết.
[12] Về xử lý vật chứng:
14
Đối với vật chứng gồm: Số tiền Việt Nam 270.000 đồng là số tiền bị cáo H5 phạm tội mà có; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 60K7-0384, màu nâu, số loại Dream, xe đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83FC-9373, màu vàng, không rõ nhãn hiệu, không rõ số khung, số máy, xe đã qua sử dụng, hư hỏng trầy xướt nhiều nơi; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 94N1-1689, nhãn hiệu KITAFU, màu xám đen, số máy VDELC150FMGB901243, số khung VDEWCG085DE901243 là tài sản của bị cáo H5 sử dụng làm phương tiện phạm tội; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 65N1-4633, loại Wave S, màu xanh đen, không rõ số máy, số khung, xe đã qua sử dụng, hư hỏng trầy xướt nhiều nơi là tài sản của bị cáo S2 sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với vật chứng gồm: 01 (một) đầu đèn màu xanh, trên vỏ có dòng chữ “UY Danh””; 01 (một) kìm cộng lực, có tổng chiều dài 60cm, lưỡi kìm bằng kim loại, màu xám dài 14cm, cán kìm bằng kim loại được sơn màu xanh, một đầu cán kìm được bọc nhựa màu đen, dài 46cm; 01 (một) đèn pin màu hồng, nhãn hiệu DP-7236A Made in China, kích thước 08cm x 09cm; 01 (một) cây dao có tổng chiều dài 42cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm, trên cán dao có 01 khoen tròn, lưỡi dao bằng kim loại màu xám, dài 28cm, có một bề sắc bén, lưỡi dao nhọn; 01 (một) bình xịt hơi cay, nhãn hiệu NATO, thể tích 110ml, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn pin, loại đèn pin đội đầu, màu đen, không nhãn hiệu, kích thước 7cm x 7,5cm; 01 (một) đèn pin, loại đèn pin đội đầu, màu đen, không nhãn hiệu, kích thước 7,5cm x 7,5cm là công cụ phạm tội, không còn giá trị hoặc không còn sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) đĩa DVD, bên trong có chứa: đoạn MP4File tên file 21112023, trích xuất ngày 21/11/2023, sao lưu ngày 26-11-2023, dung lượng 5,234KB; đoạn MP4File tên 6545713241851367214, trích xuất ngày 22-11-2023, sao lưu ngày 26-11-2023, dung lượng 1,895KB là chứng cứ của vụ án nên cần lưu theo hồ sơ vụ án.
[13] Đối với bà Đặng Thị M1: Vào ngày 21-11-2023, bà M1 mua 03 con ngỗng do bị cáo H5, P1 bán với số tiền 550.000 đồng, khi mua các con ngỗng này bà M1 không biết, các bị cáo không nói đây là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
[14] Đối với bị cáo L: Bị cáo L có ôm con gà trống lông màu trắng là tài sản do bị cáo H5 chiếm đoạt của bị hại A, nhưng bị cáo L không biết là tài sản do bị cáo H5 chiếm đoạt của bị hại A, bị cáo H5 không nói cho bị cáo L biết đây là tài sản do phạm tội mà có và mục đích bị cáo L ôm gà về để dưỡng đá, tài sản đã được thu hồi, trả lại cho bị hại Anh nên không có căn cứ để xem xét, xử lý.
[15] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ pháp luật. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy tình hình an ninh trật tự trên địa bàn xã A và xã P gần đây phát sinh nhiều vụ trộm cắp tài sản với quy mô, tính
15
chất, mức độ nghiêm trọng, gây hoang mang, bức xúc tại địa phương nên cần quyết định mức hình phạt nghiêm khắc, mức cao nhất mà Kiểm sát viên đề nghị đối với tất cả các bị cáo, có như vậy mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với từng bị cáo; đủ sức trấn áp, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[16] Người bào chữa cho bị cáo S2 đề nghị xử phạt bị cáo S2 mức hình phạt khởi điểm mà Kiểm sát viên đề nghị là chưa đủ sức trấn áp, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung nên Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt cao hơn mức hình phạt mà người bào chữa đề nghị áp dụng cho bị cáo S2.
[17] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo H5, P1, L, S2, H6 là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; các bị cáo H5, P1, S2, H6 phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tài sản nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Riêng bị cáo S2 thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí, án phí sơ thẩm và có đơn xin được miễn án phí sơ thẩm nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm phải chịu.
[18] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 173, điểm g Khoản 1 Điều 52, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Khoản 1 Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lâm H5, D (P).
- Khoản 1 Điều 173, điểm s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Khoản 1 Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Thạch L.
- Khoản 1 Điều 173, điểm i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51, Điều 17, Khoản 1 Điều 38, Điều 50, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Sơn S2 và bị cáo Thạch Minh H2.
- Điểm a, b Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Khoản 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136, Khoản 1 Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Điều 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Điểm đ Khoản 1 Điều 12; điểm a, f Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Các bị cáo Lâm H5, Danh P1, Thạch L, S, Thạch Minh H2 phạm
16
tội “Trộm cắp tài sản”.
Tuyên xử:
- Xử phạt bị cáo Lâm H5 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-01-2024.
- Xử phạt bị cáo Danh P1 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-01-2024.
- Xử phạt bị cáo Thạch L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18-01-2024.
- Xử phạt bị cáo Sơn S2 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt đi thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Thạch Minh H2 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tự nguyện chấp hành án hoặc ngày bắt đi thi hành án.
-
Về trách nhiệm dân sự:
- - Ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo Lâm H5, Danh P1, Sơn S2, Thạch Minh H2 với người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH MTV Q1 về việc các bị cáo Lâm H5, Danh P1, S, Thạch Minh H2 mỗi bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản cho Công ty TNHH MTV Q1 số tiền 7.175.875 đồng.
- - Ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bị cáo Lâm H5, Danh P1 (Phây) với bị hại Sơn Ngọc A về việc các bị cáo Lâm H5, Danh Phol mỗi bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản cho bị hại Sơn Ngọc A số tiền 488.000 đồng.
- - Người đại diện hợp pháp của Trung tâm Giống nông nghiệp không yêu cầu các bị cáo Lâm H5, Thạch L bồi thường nên không xem xét giải quyết.
-
Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: Số tiền Việt Nam 270.000 đồng đã gởi tại Kho bạc Nhà nước huyện C, tỉnh Sóc Trăng theo biên bản giao nhận tài sản số 12/2024/BBBG-CA ngày 19-3-2024; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 60K7-0384, màu nâu, số loại Dream, xe đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 83FC-9373, màu vàng, không rõ nhãn hiệu, không rõ số khung, số máy, xe đã qua sử dụng, hư hỏng trầy xướt nhiều nơi; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 94N1-1689, nhãn hiệu KITAFU, màu xám đen, số máy VDELC150FMGB901243, số khung VDEWCG085DE901243; 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 65N1-4633, loại Wave S, màu xanh đen, không rõ số máy, số khung, xe đã qua sử dụng, hư hỏng trầy xướt nhiều nơi.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đầu đèn màu xanh, trên vỏ có dòng chữ “UY Danh”; 01 (một) kìm cộng lực, có tổng chiều dài 60cm, lưỡi kìm bằng kim loại, màu xám dài 14cm, cán kìm bằng kim loại được sơn màu xanh, một đầu cán kìm
17
- được bọc nhựa màu đen, dài 46cm; 01 (một) đèn pin màu hồng, nhãn hiệu DP-7236A Made in China, kích thước 08cm x 09cm; 01 (một) cây dao có tổng chiều dài 42cm, cán dao bằng gỗ dài 14cm, trên cán dao có 01 khoen tròn, lưỡi dao bằng kim loại màu xám, dài 28cm, có một bề sắc bén, lưỡi dao nhọn; 01 (một) bình xịt hơi cay, nhãn hiệu NATO, thể tích 110ml, đã qua sử dụng; 01 (một) đèn pin, loại đèn pin đội đầu, màu đen, không nhãn hiệu, kích thước 7cm x 7,5cm; 01 (một) đèn pin, loại đèn pin đội đầu, màu đen, không nhãn hiệu, kích thước 7,5cm x 7,5cm.
- - Lưu theo hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa DVD, bên trong có chứa: đoạn MP4File tên file 21112023, trích xuất ngày 21/11/2023, sao lưu ngày 26-11-2023, dung lượng 5,234KB; đoạn MP4File tên 6545713241851367214, trích xuất ngày 22-11-2023, sao lưu ngày 26-11-2023, dung lượng 1,895KB.
- Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Lâm H5, Danh P1, Thạch L, Thạch Minh H2 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng. Bị cáo Lâm H5, bị cáo Danh P1 mỗi bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền tính tròn số là 383.000 đồng; bị cáo Thạch Minh H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền tính tròn số là 359.000 đồng. Bị cáo Sơn S2 thuộc trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Cao Thành Đạt |
19
20
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lâm H và đồng phạm phạm tội "Trộm cắp tài sản".
