|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2024/DS-ST Ngày 16 tháng 5 năm 2024 V/v: "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trần Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Biên;
Ông Nguyễn Văn Tư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hùng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 172/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-DS ngày 04/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 34/2023/QÐST-DS ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1.1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Đ (sau đây gọi tắt là: ngân hàng); địa chỉ: Tòa nhà B, số C H, quận H, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chủ tịch HĐQT; người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung K – Giám đốc Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, Chi nhánh B; người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Đỗ Văn C– Giám đốc Phòng G, Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, Chi nhánh B (có mặt).
1.2. Bị đơn: Ông Bùi Văn H, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
1.3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1.3.1. Chị Bùi Thị T1, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn K, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
1.3.2. Chị Bùi Thị T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
1.3.3. Anh Bùi Trung H1, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, đại diện Ngân hàng trình bày:
Yêu cầu ông Bùi Văn H phải thanh toán các khoản vay tín dụng theo Hợp đồng tín dụng số: 479K/2005/HĐ ngày 11/8/2005 đã ký giữa ông Bùi Văn H với Ngân hàng TMCP Đ, Chi nhánh B số tiền cho vay: 25.000.000 đồng (Hai mươi nhăm triệu đồng); mục đích vay: Chăm sóc vải thiều và chăn nuôi; lãi suất là 1,2%/tháng; thời hạn vay là 37 tháng. Quá trình vay, ông H đã thực hiện nghĩa vụ trả nợ, dư nợ gốc còn lại là: 10.000 đồng, tính đến ngày xét xử thì lãi trong hạn: 25.201.709 đồng; lãi quá hạn: 13.887.695 đồng. Tổng cộng là 39.099.404 đồng.
Trong trường hợp ông Bùi Văn H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản vay thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 480K/TC, ngày 11/08/2005 giữa Ngân hàng TMCP Đ, Chi nhánh B với Ông Bùi Văn H, tài sản là Quyền sử dụng đất theo Giá trị 5700 m2 và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: X 117317 số vào sổ cấp GCN: 00898, do UBND huyện L cấp ngày 28/07/2003, địa chỉ tại: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Bùi Văn H xác định: Ông thừa nhận ông có ký Hợp đồng tín dụng số: 479K/2005/HĐ ngày 11/8/2005 với Ngân hàng TMCP Đ, Chi nhánh B để vay số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi nhăm triệu đồng) quá trình vay ông đã thanh toán được tiền gốc và lãi, tình đến nay ông còn nợ tiền gốc là 10.000 đồng và số tiền lãi như nhân viên ngân hàng đã tính. Để đảm bảo được vay ông và vợ ông là bà Trần Thị T3 có ký Hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản là Quyền sử dụng đất theo Giá trị 5700 m2 và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: X 117317 số vào sổ cấp GCN: 00898, do UBND huyện L cấp ngày 28/07/2003, địa chỉ tại Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Năm 2016, bà T3 chết, bố mẹ bà T3 cũng chết trước đó từ lâu. Người thừa kế của bà T3 là ông và ba con là Bùi Thị T1, Bùi Thị T2 và Bùi Trung H1. Nay ông nhất trí thanh toán cho ngân hàng khoản vay này, nhưng hiện nay điều kiện kinh tế khó khăn ông chưa thể thanh toán được.
Những ngưới có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1 Trong quá trình làm việc Toà án đã tiến hành gửi các văn bản tố tụng, gồm: Thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nhưng vẫn không có mặt để làm việc. Do vậy, Toà án không thể làm việc được với chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1.
Tại phiên tòa đại diện nguyên đơn giữ nguyên quan điểm đã trình bày.
Phần tranh luận: Không.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến, về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
-
Buộc ông Bùi Văn H, chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ, Chi nhánh B số gốc còn lại là: 10.000 đồng, tính đến ngày xét xử thì lãi trong hạn: 25.201.709 đồng; lãi quá hạn: 13.887.695 đồng. Tổng cộng là 39.099.404 đồng.
Trong trường hợp ông Bùi Văn H, chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản vay thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 480K/TC, ngày 11/08/2005 giữa Ngân hàng TMCP Đ với Ông Bùi Văn H, tài sản là Quyền sử dụng đất theo Giá trị 5700 m2 và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: X 117317 số vào sổ cấp GCN: 00898, do UBND huyện L cấp ngày 28/07/2003, địa chỉ tại Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: Miễn án phí cho ông Bùi Văn H; Chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1 mỗi người phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí thẩm định tài sản: Ông Bùi Văn H phải nộp trả Ngân hàng tiền chi phí thẩm định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa ngân hàng đối với ông Bùi Văn H là quan hệ dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang thụ lý, giải quyết vụ án là đúng với quy định của pháp luật và thẩm quyền được qui định tại các Điều 26; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về tư cách tham gia tố tụng: Khi thụ lý đơn khởi kiện của ngân hàng, Tòa án xác định bà Trần Thị T3 vợ ông Bùi Văn H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ cho thấy bà Trần Thị T3 đã chết từ năm 2016. Do đó, Tòa án xác định người kế thừa còn lại của bà T3 gồm chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
[3]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không thể hiện vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện:
Việc ký kết hợp đồng giữa các đương sự là đúng pháp luật, tự nguyện được các bên thừa nhận. Nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ngân hàng đối với ông Bùi Văn H phải thanh toán các khoản vay theo Điều 90, khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08; Điều 280, Điều 322, khoản 7 Điều 323 của Bộ luật dân sự, cụ thể như sau:
Buộc ông Bùi Văn H, chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng TMCP Đ, Chi nhánh B số gốc còn lại là: 10.000 đồng, tính đến ngày xét xử thì lãi trong hạn: 25.201.709 đồng; lãi quá hạn: 13.887.695 đồng. Tổng cộng là 39.099.404 đồng.
Trong trường hợp ông Bùi Văn H, chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản vay thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 480K/TC, ngày 11/08/2005 giữa Ngân hàng TMCP Đ với Ông Bùi Văn H, tài sản là Quyền sử dụng đất theo Giá trị 5700 m2 và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: X 117317 số vào sổ cấp GCN: 00898, do UBND huyện L cấp ngày 28/07/2003, địa chỉ tại Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
[4].Về chi phí thẩm định: Số tiền chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ là 5.000.000 đồng, ông Bùi Văn H phải nộp trả cho ngân hàng.
[5]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, các đương sự phải chịu án phí dân sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, ông H là người cao tuổi, nên được miễn án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q.
[6]. Kiến nghị với lãnh đạo Ngân hàng Đ1, chi nhánh B trong việc xem xét trách nhiệm nhân viên theo dõi, đôn đốc, thu hồi đối với khoản vay tín dụng này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 90, khoản 2 Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08; khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, Chi nhánh B.
- Buộc ông Bùi Văn H, chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1 có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, Chi nhánh B số gốc là: 10.000 đồng, lãi trong hạn: 25.201.709 đồng ; lãi quá hạn: 13.887.695 đồng. Tổng cộng là 39.099.404 đồng (Ba mươi chín triệu, không trăm chín mươi chín nghìn bốn trăm linh bốn đồng).
- Trường hợp ông Bùi Văn H, chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản vay thì yêu cầu xử lý tài sản thế chấp, tài sản là Quyền sử dụng đất theo Giá trị 5700 m2 và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: X 117317 số vào sổ cấp GCN: 00898, do UBND huyện L cấp ngày 28/07/2003, địa chỉ: Thôn C, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-
Về án phí:
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Bùi Văn H.
- Chị Bùi Thị T1, chị Bùi Thị T2 và anh Bùi Trung H1 mỗi người phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần Đ, Chi nhánh B số tiền 954.000 đồng (Chín trăm năm mươi tư nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000132 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về chi phí tố tụng: Ông Bùi Văn H phải nộp trả Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ, Chi nhánh B số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) chi phí thẩm định tài sản.
-
Về nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (17/5/2024), người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà Nguyễn Trần Kiên |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 31/2024/DS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 31/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BIDV - Hạnh HĐ tín dụng
