TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày 16 - 5 - 2024
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Phước.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Chung Thị Thu Nguyệt.
- Bà Lê Nguyễn Huỳnh Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Tòng - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân
huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 36/2024/TLST-HNGĐ, ngày 29 tháng 01 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Phạm Thị B, sinh năm 1960.
- Địa chỉ: Số I, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt có đơn)
- - Bị đơn: Ông Trần Ngọc T, sinh năm 1962.
- Địa chỉ: Số I, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Phạm Thị B trình bày:
Về hôn nhân: Bà Phạm Thị B với ông Trần Ngọc T quen biết, tìm hiểu rồi được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn với nhau, bà B với ông T sống hạnh phúc đến năm 2010 thì phát sinh mâu thuẫn và thật sự ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, khi chung sống vợ chồng không hợp nhau, cuộc hôn nhân kéo dài trong tình trạng không hạnh phúc.
Bà B nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn để chung sống với ông T nên bà B yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà B và ông T chung sống với nhau có 02 con chung tên Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 01/01/1983 và Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1985, hiện cả 02 con chung của bà B và ông T đã trưởng thành, có khả năng tự lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bị đơn là ông Trần Ngọc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, bản photo đơn khởi kiện của nguyên đơn cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn, nhưng bị đơn không gửi văn bản ghi ý kiến cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện nộp ngày 19 tháng 01 năm 2024 và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là: “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là ông Trần Ngọc T có địa chỉ thường trú tại số I, ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp nên Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị B có đơn xin xét xử vắng mặt, còn ông Trần Ngọc T vắng mặt không lí do, căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa, bà Phạm Thị B vắng mặt nhưng theo đơn khởi kiện và Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho rằng: Bà Phạm Thị B và ông Trần Ngọc T quen biết và được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 1982, nhưng không có đăng ký kết hôn. Do cuộc sống vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nên bà Phạm Thị B và ông Trần Ngọc T đã ly thân từ năm 2010 cho đến nay. Nay bà Phạm Thị B yêu cầu được ly hôn với ông Trần Ngọc T. Tại phiên tòa, ông Trần Ngọc T vắng mặt và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.
Hội đồng xét xử, xét thấy bà Phạm Thị B và ông Trần Ngọc T sống chung như vợ chồng vào năm 1982, không có đăng ký kết hôn và xác định theo năm sinh của người con gái lớn của bà Phạm Thị B và ông Trần Ngọc T có ngày tháng năm sinh ngày 01/01/1983. Từ đó, đủ căn cứ xác định thời điểm bà Phạm Thị B và ông Trần Ngọc T bắt đầu sống chung như vợ chồng là trước ngày 03/01/1987 nên quan hệ hôn nhân là hôn nhân thực tế và được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, sau khi cưới bà Phạm Thị B và ông Trần Ngọc T sống chung hạnh phúc đến đầu năm 2010 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn và ly thân cho đến nay, tình cảm vợ chồng giữa bà Phạm Thị B và ông Trần Ngọc T không còn, đời sống chung không thể kéo dài,
mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử cho bà Phạm Thị B và ông Trần Ngọc T ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Bà Phạm Thị B và ông Trần Ngọc T có 02 con chung tên Trần Thị Thanh T1, sinh ngày 01/01/1983 và Trần Thị Mỹ L, sinh năm 1985, các con đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[6] Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị B phải chịu án phí theo quy định Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bà Phạm Thị B phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ
thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị B. Cho bà Phạm Thị B ly hôn với ông Trần Ngọc T.
- Về con chung: Đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị B phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003597 ngày 26 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò.
- Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị B và ông Trần Ngọc T vắng mặt nên được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Phước |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
