Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIAO THỦY

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 16-5-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Văn Thịnh;

Ông Nguỵ Thanh Tuyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Phú - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 41/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K, sinh năm 1960, tại huyện G, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn 5/10; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc K1 bà Trần Thị B (đều đã chết); vợ là Đinh Thị T; có 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 09-4-1991 bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Thủy, tỉnh Hà Nam Ninh xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Cưỡng đoạt tài sản của công dân”; ngày 29-9-1999, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 05 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”; ngày 08-7-2002, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 24-11-2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 10-01-2024, chuyển tạm giam từ ngày 19-01-2024” “có mặt”.

Người làm chứng: Trần Quang H; “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 05 phút ngày 10-01-2024, Trần Quang H gọi điện thoại cho Nguyễn Văn K đặt vấn đề để mua 01 gói ma túy, K đồng ý. Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, khi K và H gặp nhau ở khu vực gồ mathuộc tổ dân phố Q, thị trấn Q, K đưa cho H 01 gói heroin gói bằng giấy bạc màu trắng, H trả cho K 200.000 đồng nhưng K chưa kịp nhận thì bị tổ công tác Công an thị trấn Q phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện G phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ trong lòng bàn tay của H 01 gói nhỏ, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (được niêm phong ký hiệu M1) và 200.000 đồng. Thu giữ trong túi áo khoác bên phải của K 01 gói giấy bạc màu trắng được bọc bên ngoài bằng túi nilon, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (được niêm phong ký hiệu M2), K khai nhận dó là H1 của K cất giấu với mục đích để bán. Tổ công tác còn thu giữ của Trần Quang H 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel, thu giữ của Nguyễn Văn K 01 diện thoại di động nhãn hiệu Xphone, 01 xe máy nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát: 18B1-831.27.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của K, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G thu giữ trong túi áo chống nắng treo trên móc quần áo trong phòng ngủ tầng một 01 gói nhỏ bên ngoài gói bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (được niêm phong ký hiệu M), K khai nhận đó là Heroin K2 cất giấu với mục đích để bán kiếm lời; thu trong áo khoác treo ở giá treo quần áo phòng ngủ tầng hai số tiền 11.000.000 đồng, thu trên bàn uống nước phòng ngủ tầng hai: 04 mảnh giấy bạc màu trắng, kích thước: 04x04 cm; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, thu giữ trên bàn uống nước tại phòng khách 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7.

Tại bản kết luận giám định số 298/KL-KTHS ngày 16/01/2024 của Phòng K3 - Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 03 (ba) phong bì được niêm phong ký hiệu M, M1, M2 gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine (H). Khối lượng mẫu M: 0,108 gam, khối lượng mẫu M1: 0,028 gam, khối lượng mẫu M2: 0,084 gam"

Tại bản Cáo trạng số 44/CT-VKSGT ngày 17 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã truy tố Nguyễn Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Văn K từ 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng và 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel và Xphone thu giữ của Nguyễn Văn K và Trần Quang H. Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định. Tịch thu tiêu hủy 04 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước 04 x 04 cm thu giữ tại nhà Nguyễn Văn K. Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòabị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 10-01-2024, tại trục đường thuộc tổ dân phố Q, thị trấn Q, huyện G, Nguyễn Văn K đã có hành vi bán trái phép cho Tràn Quang H2 01 gói Heroin có khối lượng 0,028 gam thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện G phối hợp cùng Công an thị trấn Quất Lâm phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra còn thu giữ tại nhà bị cáo 02 gói Heroin có tổng khối lượng 0,192 gam với mục đích để bán kiếm lời. Nhận thấy bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương; do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúngpháp luật.
  3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đã trên 60 tuổi nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. Về hình phạt chính: Căn cứ các quy định của pháp luật, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Hội đồng xét xử thấy cần xử phạtbị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, cách lybị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, có như vậy mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời đáp ứng công tác phòng chống tội phạm nói chung.
  6. Về nguồn gốc số Heroine thu giữ của Nguyễn Văn K: Bị cáo khai nhận ngày 09-01-2024, bị cáo mua của một người phụ nữ tại khu vực chợ xã G, huyện G nhưng không biết tên tuổi, địa chỉ. Nhận thấy ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
  7. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  8. Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ:

    Đối với 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel và X và số tiền 200.000 đồng thoại thu giữ của Nguyễn Văn K và Trần Quang H liên quan tới hành vi phạm tội cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

    Số Heroine hoàn trả mẫu vật sau giám định là vật cấm lưu hành và 04 giấy bạc màu trắng kích thước 04 x 04 cm thu giữ của K cần tịch thu cho tiêu hủy.

    Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-832.27, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi 7 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia cùng số tiền 11.000.000 đồng đã thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định số tài sản trên là tài sản của chị Đinh Thị T (là vợ K) nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại cho chị T là phù hợp.

  9. Đối với Trần Quang H đã có hành vi mua 01 gói heroin khối lượng 0,028 gam của Nguyễn Văn K về sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G xét thấy chưa đến mức phải xử lý hình sự nên đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H là phù hợp.
  10. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 10-01-2024.

  2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách nhà nước 02 chiếc điện thoại cùng số tiền 200.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn K và Trần Quang H. Tịch thu cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định số 298/KL-KTHS ngày 16-01-2024 của Phòng K3 công an tỉnh N và 04 mảnh giấy bạc màu trắng kích thước 04 x 04 cm thu giữ tại nhà Nguyễn Văn K (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng số 61/2024 lập ngày 19-4-2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định).
  3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho Nguyễn Văn K.
  4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Giao Thủy;
  • - CQĐT Công an huyện Giao Thủy;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Giao Thủy;
  • - Chi cục THADS huyện Giao Thủy;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Giao Thủy;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT; hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger