|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. |
|
Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 09-8-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Mạnh Hùng |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Phan Thị Bích |
| Ông Nguyễn Trần Phương |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
- NGUYỄN HUY H, sinh ngày 07/8/2004, tại Hoà Bình; Nơi cư trú: Tổ E, phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Huy H, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/02/2024
- LƯU VĂN DŨNG, sinh ngày 20/4/2003, tại Hoà Bình; Nơi cư trú: Tổ A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Văn T1, đã chết và bà Văn Thị T2, sinh năm 1977; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tam giam từ ngày 11/02/2024
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1
- + Anh Trương Đại H1, sinh ngày 17/6/2009; Đại diện hợp pháp: Ông Trương Thanh H2, sinh năm 1986 – bố đẻ; cùng địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Đoàn thanh niên phường Đ, TP H, tỉnh Hòa Bình
- + Anh Nguyễn Đức T3, sinh ngày 29/4/2005; địa chỉ: Tổ dân phố M, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình.
- + Chị Văn Thị T2, sinh năm 1977; địa chỉ: Tổ A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
- + Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ E, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4/2022, Nguyễn Huy H3 lên mạng xã hội Facebook tìm việc làm trong các hội nhóm “việc nhẹ lương cao”, sau khi nhắn tin vào nhóm, H3 được người của nhóm này nhắn tin và gọi điện giới thiệu về công việc là làm các việc liên quan đến máy tính và chạy quảng cáo, tương tác trên nền tảng mạng xã hội Zalo, Facebook... và tiến hành các hoạt động kinh doanh khác theo yêu cầu của công ty. Sau khi đồng ý đi sang Campuchia làm, H3 được hướng dẫn khi đến bến xe miền Đ thuộc thành phố Hồ Chí Minh sẽ có người của công ty ra đón và đưa sang Campuchia. Sau đó, H3 được đón và di chuyển bằng ô tô qua khu vực biên giới gần Cửa khẩu M, tỉnh Tây Ninh, không phải làm các thủ tục xuất nhập cảnh qua cửa khẩu, cùng đi với H3 còn một số người ở các địa phương khác nhau. S đến địa phận Campuchia, H3 và những người này tiếp tục được một người Trung Quốc đưa đến Công ty ở gần khu vực gần biên giới với Thái Lan (thị trấn có tên là O’smach thuộc đô thị S, tỉnh Oddar Meanchey, Campuchia). Quá trình làm việc tại Campuchia, người đại diện công ty có thoả thuận với H3 và những người Việt Nam khác cùng làm việc với H3 về việc tìm thêm người Việt Nam sang làm, nếu giới thiệu và tìm được người thì công ty sẽ trả công cho H3 với số tiền 1.000 USD/1 người. Sau đó, H3 có liên lạc với Lưu Văn D, sinh năm 2003 trú tại tổ A, phường Đ, thành phố H, tỉnh Hòa Bình và nói H3 đang làm việc ở Campuchia, công việc làm trên máy tính, nếu có ai muốn đi làm ở Campuchia thì giới thiệu cho H3, nếu giới thiệu và tìm được người thì H3 sẽ trả công cho D 6.000.000 đồng/1 người. D đồng ý.
Lần thứ nhất:
Vào khoảng tháng 10/2022, sau khi Hoàng liên h và thỏa thuận với Lưu Văn D như trên. D liên lạc với H3 và thông báo D tìm được Trương Đại H1 và Phạm Trí T4. D trao đổi với Trương Đại H1 và T4 về việc H1 đang làm việc ở Campuchia, đang cần tìm người sang làm việc, công việc là làm trên máy tính, lương cao, khoảng mấy chục triệu/tháng, không phải làm thủ tục, giấy tờ gì, chỉ cần cầm Căn cước công dân để đi ô tô hoặc máy bay vào khu vực phía Nam đến bến xe M thuộc thành phố Hồ Chí Minh thì sẽ có người đón sang Campuchia. Tiếp đó, D gọi điện thoại cho H1 để H1 trao đổi trực tiếp với Trương Đại H1 và Phạm Trí T4 về công việc bên Campuchia, Đại H1 và T4 đồng ý đi làm bên Campuchia. Do Đại H1 và T4 không có điện thoại để liên lạc, không có tiền để đi vào thành phố Hồ Chí Minh nên H1 bảo D về nhà H1 lấy điện thoại đưa cho Đại H1 và T4 để tiện liên lạc đồng thời bảo D ứng 2.000.000đ cho Đại H1, T4 để đi vào Thành phố H. Sau đó, H1 hướng dẫn Đại H1 và T4 đón xe khách từ thành phố H đi thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến bến xe M thuộc thành phố Hồ Chí Minh, T4 gọi điện báo cho D là đã đến thành phố Hồ Chí Minh, D nhắn tin cho H1 biết, H1 thông báo cho công ty để cho người đón, dẫn T4 cùng Đại Hoàng vượt biên trái phép qua biên giới sang Campuchia. Sau khi Đại H1 và T4 đến Campuchia làm việc, đại diện Công ty đã trả cho H1 số tiền 2000 USD (Tiền công giới thiệu Đại H1 và T4 đến Công ty làm việc), H1 trả cho D 12.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản (H1 không nhớ mượn số tài khoản của ai để chuyển cho D, H1 chuyển hai lần, mỗi lần 6.000.000₫).
Lần thứ hai:
Tháng 9/2023, H1 về Việt Nam chơi. Trong thời gian này, D nói với H1 về việc đang cần tiền để trả nợ và xin H1 cho đi làm ở Campuchia, H1 đồng ý dẫn D đi làm cùng và bảo D tìm và rủ thêm người đi. Lần này nếu D tìm được người đi cùng Hoàng h1 sẽ trả cho D số tiền 1.000 USD/người. Sau đó, D tìm rủ và giới thiệu Nguyễn Đức T3 cho H1 để cùng rủ sang Campuchia làm việc. Sau vài ngày H1, D và T3 cùng đi xuống Hà Nội để đi máy bay vào Tp Hồ Chí Minh. Trên đường đi H1 đặt vé máy bay cho H1, D và T3 nhưng do T3 không có căn cước công dân nên H1 bảo T3 phải đi xe khách vào thành phố Hồ Chí Minh khi nào vào đến bến xe M thì gọi điện thoại cho D hoặc H1 biết để H1 thông báo cho công ty cho người đón. Sau đó, H1 đặt xe khách đi vào Thành phố Hồ Chí Minh cho T3. Sau khi đặt được xe, D, H1 và T3 đứng đợi xe ở Hà Nội (nhưng không nhớ khu vực nào). Sau đó, xe khách đến đón T3. Trên đường đi, T3 bỏ về Hoà Bình không đi nữa nhưng không nói gì với D và H1; H1 và D cũng không liên lạc được với T3 và không biết T3 đi đâu, làm gì. Khi đến sân bay N do Giấy Chứng minh nhân dân của H1 bị hỏng, nên phải quay về thành phố H để làm giấy xác nhận nhân thân rồi đi chuyến bay ngày hôm sau. Khi D vào đến thành phố Hồ Chí Minh thì liên hệ được với T4, T4 thông báo cho công ty thì D được người của công ty đón sang Campuchia. Còn Hoàng vài ngày sau cũng đến công ty tại Campuchia, khi đến làm việc thì H1 được ông chủ thông qua Trần Thảo A là người phiên dịch trả cho H1 1.000 USD tiền giới thiệu D vào làm. Số tiền này H1 đã đưa lại cho D do D không có tiền chi tiêu.
Căn cứ Tỷ giá ngoại tệ của đồng Việt Nam (V) với đồng Đô la M (USD) do Ngân hàng N - Chi nhánh tỉnh H cung cấp:
- Tháng 10/2022: Tỷ giá USD/VND = 23.695.
- Tháng 9/2023: Tỷ giá USD/VND = 24.089.
3
Xác định: Tháng 10/2022 H1 được nhận 2.000 USD = 47.390.000 VND, Hoàng chia cho D 12.000.000 VND; Tháng 9/2023, H1 được nhận 1.000 USD = 24.089.000 VND, số tiền này Hoàng chuyển lại cho D chi tiêu. Tổng số tiền H1 được hưởng lợi là: (47.390.000 – 12.000.000 + 24.089.000) = 59.479.000 VND, D được hưởng lợi 12.000.000 VND.
Đến tháng 01/2024 H1 và D trở về Việt Nam. Đến ngày 11/2/2024 Nguyễn Huy H3 và Lưu Văn D đến Cơ quan công an đầu thú về hành vi phạm tội của bản thân.
Về vật chứng trong vụ án:
- 01 (Một) thẻ Căn cước công dân số: [...], mang tên Nguyễn Huy H3, cấp ngày 13/9/2023, nơi cấp: Cục CS.QLHC về TTXH Bộ C.
- 01 (Một) thẻ Căn cước công dân số: [...], mang tên Lưu Văn D, cấp ngày 25/4/2021, nơi cấp: Cục CS.QLHC về TTXH Bộ C.
- 01 (Một) Điện thoại di động của Nguyễn Huy H3, nhãn hiệu: IPHONE 15 PRO MAX, màu trắng Titan, đã qua sử dụng.
- 01 (Một) Điện thoại di động của Lưu Văn D, nhãn hiệu IPHONE 8 Plus, màu đỏ, đã qua sử dụng.
Cáo trạng số: 40/CT-VKSHB-P1 ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố các bị cáo Nguyễn Huy H3, Lưu Văn D về tội Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 349 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- - Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy H3, Lưu Văn D phạm tội Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 349; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 15, Điều 57, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H3 từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù; bị cáo Lưu Văn D từ 04 năm, đến 04 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của các bị cáo;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên Công an tỉnh H của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.
[2] Về hành vi phạm tội:
Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở đề kết luận: Nguyễn Huy H3 và Lưu Văn D là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo không được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người đi lao động tại nước ngoài, nhưng các bị cáo đã có hành vi tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài nhằm mục đích hưởng lợi.
Khoảng tháng 10/2022, Nguyễn Huy H3 đã tổ chức, môi giới cho Trương Đại H1 và Phạm Trí T4 (do D giới thiệu) để H1 tổ chức, môi giới trốn sang C làm việc và được hưởng lợi 2.000 USD tương đương 47.390.000 đồng. Lần 2: Khoảng tháng 9/2023, Nguyễn Huy H3 đã tổ chức, môi giới cho Lưu Văn D và Nguyễn Đức T3 sang C lao động, tuy nhiên trên đường đi Nguyễn Đức T3 đã tự ý bỏ về Hòa Bình không nói cho H3 và D biết, lần phạm tội này H3 được hưởng lợi 1.000 USD tương đương 24.089.000 đồng từ việc giới thiệu D làm việc tại C.
Đối với Lưu Văn D sau khi được Nguyễn Huy H3 cho biết nếu đưa được người sang C làm việc thì được H3 trả công môi giới cho D 6.000.000đồng/ người. D là người rủ rê, môi giới và cùng Nguyễn Huy H3 tổ chức cho Trương Đại H1 và Phạm Trí T4 (lần 1) và Nguyễn Đức T3 (lần 2) và được hưởng lợi 12.000.000đồng từ hành vi phạm tội nêu trên.
Hành vi nêu trên các bị cáo Nguyễn Huy H3, Lưu Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 349 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình truy tố là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào các quy định trật tự quản lý ành chính của Nhà nước, xâm phạm đến hoạt động xuất nhập cảnh của cơ quan Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Xét các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật, tuy nhiên các bị cáo đã bất chấp coi thường pháp luật cố ý thực hiện hành
5
vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.
[3] Xét vai trò thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo:
Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Tuy bị cáo H3 không phải người chủ mưu, khởi xướng việc tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài, tuy nhiên khi được người chủ thuê bị cáo làm việc có thỏa thuận nếu đưa được người sang Campuchia làm việc thì được trả công môi giới. H3 đã liên lạc để D tìm người có nhu cầu sang C làm việc và thông báo cho H3 để H3 tổ chức, bố trí cho người lao động vượt biên giới trái phép sang C để cả hai cùng hưởng lợi số tiền hoa hồng môi giới việc làm.
D là người rủ rê, môi giới và cùng Nguyễn Huy H3 tổ chức cho Trương Đại H1 và Phạm Trí T4 (lần 1) và Nguyễn Đức T3 (lần 2) trốn sang Campuchia. Do đó các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của các bị cáo gây ra. Bị cáo H1 được xác định có vai trò cao hơn bị cáo D. Bị cáo D là đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực, chịu trách nhiệm hình sự và mức hình phạt thấp hơn bị cáo H1.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo đều đầu thú về hành vi phạm tội của mình, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo Nguyễn Huy H3 đã nộp 10.000.000đ, gia đình bị cáo Lưu Văn D đã nộp 5.000.000₫ để khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với Lưu Văn D khi thực hiện hành vi tổ chức, môi giới cho Nguyễn Đức T3, T3 đã tự ý bỏ về không nói cho bị cáo biết, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên khi lượng hình được áp dụng các quy định tại Điều 15 và Điều 57 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Bị cáo Nguyễn Huy H3 được hưởng lời từ việc tổ chức, môi giới sang Campuchia làm việc số tiền 59.479.000 đồng. Bị cáo Lưu Văn D được hưởng lợi 12.000.000 đồng. Đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị T (mẹ của bị cáo H3) đã tự nguyện nộp số tiền 10.000.000 đồng, bà Văn Thị T2 (mẹ của bị cáo D) đã tự nguyện nộp số tiền 5.000.000 đồng. Cần tiếp tục truy thu số tiền còn lại để sung ngân sách nhà nước.
Bà T và bà T2 tự nguyện nộp số tiền nêu trên, không yêu cầu các bị cáo phải bồi hoàn nên Hội đồng xét xử không xét.
6
[6] Về vật chứng:
- - Đối với 01 Điện thoại IPHONE 15 PRO MAX của Nguyễn Huy H3 và 01 Điện thoại IPHONE 8 Plus của Lưu Văn D, đây là phương tiện mà các bị cáo sử dụng vào việc cá nhân không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho các bị cáo.
- - Đối với Căn cước công dân số [...], mang tên Nguyễn Huy H3 và căn cước công dân số [...], mang tên Lưu Văn D là giấy tờ tùy thân, cần trả lại cho các bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8] Các vấn đề khác:
Đối với người quản lý và chủ công ty nơi các bị cáo và những người liên quan khác làm việc tại thị trấn O (O’smach), thuộc đô thị S, tỉnh Oddar Meanchey, Campuchia: Quá trình điều tra, Nguyễn Huy H3 trình bày, người quản lý trực tiếp có tên thường gọi là “Phong Cơ”, và chủ công ty thường gọi là “Lão Hổ”. Hai người này đều là người Trung Quốc, không biết tiếng Việt, giao tiếp thông qua người phiên dịch là Trần Thảo A . Nguyễn Huy H3, Lưu Văn D và những người liên quan khác đều không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này. Do căn cước lai lịch không rõ ràng nên Cơ quan an ninh điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với Trần Thảo A, sinh ngày 15/10/1996, nơi thường trú: Số D, đường H, Tổ D, thị trấn B, huyện B, tỉnh Lào Cai: Theo lời khai của Nguyễn Huy H3 và Lưu Văn D, Thảo A giữ vai trò là người phiên dịch và là người nhận chuyển tiền hộ cho những người Việt Nam đang làm việc tại công ty. Cơ quan ANĐT Công an tỉnh H đã tiến hành sao kê tài khoản và xác minh tại nơi thường trú, triệu tập Trần Thảo A để làm việc liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, Trần Thảo A không có mặt tại địa phương, theo thông tin từ gia đình hiện tại Trần Thảo A đang làm việc tại Campuchia, Cơ quan an ninh điều tra chưa tiến hành làm việc và làm rõ được mức độ liên quan và vi phạm nên sẽ tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với những người đưa đón Nguyễn Huy H3, Lưu Văn D và những người liên quan khác qua lại biên giới Việt Nam - Campuchia: Do căn cước lai lịch không rõ ràng nên Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ. Cơ quan An ninh điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi sang Camphuchia của Trương Đại H1 (sinh ngày 17/6/2009). Tháng 10/2022 khi H1 sang Camphuchia lúc này H1 mới được 13 tuổi 4 tháng. Vì vậy, Trương Đại H1 không bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi trên.
Đối với Phạm Trí T4: Quá trình điều tra xác định Phạm Trí T4 không có mặt tại địa phương, gia đình T4 cho biết T4 đang đi làm việc tại C. Cơ quan An ninh điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ, khi nào đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
7
Đối với Nguyễn Đức T3 là người được H1 và D tổ chức, môi giới sang Camphuchia lao động trên đường đi Nguyễn Đức T3 đã tự ý bỏ về Hòa Bình nên không đề cập xử lý.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về tội danh, hình phạt:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Huy H3, Lưu Văn D phạm tội “Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 349; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Huy H3 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/02/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 349; Điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lưu Văn D 04 (B) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/02/2024.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 15.000.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0002623 ngày 15/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hoà Bình.
- Truy thu số tiền phạm tội mà có của bị cáo Nguyễn Huy H3 49.479.000 đồng, truy thu của Lưu Văn D 7.000.000 đồng.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
2.1. Trả lại cho các bị cáo:
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Huy H3:
- - 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín, một mặt có ghi: “Điện thoại di động của Nguyễn Huy H3”. Trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H.
- - 01 (Một) thẻ Căn cước công dân số: [...], mang tên Nguyễn Huy H3, cấp ngày 13/9/2023, nơi cấp: Cục CS.QLHC về TTXH Bộ C.
Trả lại cho bị cáo Lưu Văn D:
- - 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín, một mặt có ghi: “Điện thoại di động của Lưu Văn D”. Trên mép dán có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh H.
- - 01 (Một) thẻ Căn cước công dân số: [...], mang tên Lưu Văn D, cấp ngày 25/4/2021, nơi cấp: Cục CS.QLHC về TTXH Bộ C.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số:32/BB-GNVC ngày 10/7/2024, giữa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh H và Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hòa Bình)
8
3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí, lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Nguyễn Huy H3, Lưu Văn D mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Hùng |
9
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huy H + ĐP “Tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài”.
