Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HS-ST

Ngày: 14/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phương và ông Hoàng Quốc Toản

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Giáp - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Mai Đức R, tên gọi khác: Không, sinh ngày 20/7/1990 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...], cấp ngày 02/7/2021 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH- bộ C1 cấp; Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Thợ nề; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Đại T và bà Nguyễn Thị Phước H; Gia đình có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Ngô Thị H1, sinh năm 1992; Con: Có 2 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án: Không ;Tiền sự: không.

    Quá trình nhân thân: Còn nhỏ ở với gia đình, học văn hóa đến lớp 6/12 thì nghỉ ở nhà, sau đó lập gia đình làm ăn sinh sống tại địa phương cho đến ngày phạm tội (26/11/2023).

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/02/2024 cho đến nay tại xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

  2. Mai Đức Anh T1, tên gọi khác: Không, sinh ngày 20/3/1999 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...], cấp ngày 10/5/2021 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH- Bộ C1 cấp; Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ nề; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Đại T và bà Nguyễn Thị Phước H; Gia đình có 04 người, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Trần Thị Hồng L, sinh năm 2002; Con: Có 01 con, sinh năm 2018. Tiền án: Không ;Tiền sự: không.

    Quá trình nhân thân: Còn nhỏ ở với gia đình, học văn hóa đến lớp 9/12 thì nghỉ ở nhà, sau đó lập gia đình làm ăn sinh sống tại địa phương cho đến ngày phạm tội (26/11/2023).

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/02/2024 cho đến nay tại xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

  3. Lê Văn Đ, tên gọi khác: Không, sinh ngày 02/8/1992 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...], cấp ngày 10/5/2021 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH- bộ C1 cấp; Nơi cư trú thôn K, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ cưa; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Chí N (chết) và bà Trần Thị M; Gia đình có 04 người, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1998; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án: Không; Tiền sự: không.

    Quá trình nhân thân: Còn nhỏ ở với gia đình, học văn hóa đến lớp 9/12 thì nghỉ ở nhà, sau đó lập gia đình làm ăn sinh sống tại địa phương cho đến ngày phạm tội (26/11/2023).

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/02/2024 cho đến nay tại xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

  4. Ngô Đình H2, tên gọi khác: Không, sinh ngày 31/7/2007 ( tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 tuổi 3 tháng 25 ngày) tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...], cấp ngày 23/3/2022 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH- bộ C1 cấp; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Thợ nề; trình độ học vấn: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Đình L1 và bà Hồ Thị T2; Gia đình có 04 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

    Quá trình nhân thân: Còn nhỏ ở với gia đình, học văn hóa đến lớp 7/12 thì nghỉ, sau đó ở nhà làm ăn sinh sống tại địa phương cho đến ngày phạm tội (26/11/2023).

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 27/02/2024 cho đến nay tại xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Ngô Đình H2: Bà Đỗ Thị Thanh H3 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T, có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Ngô Đình H2: Ông Ngô Đình L1 và bà Hồ Thị T2. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế ( Bà T2 có mặt, ông L1 vắng mặt)

- Bị hại: Ban Q. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Thanh T3, chức vụ: Phó Trưởng phòng Quản lý bảo vệ rừng. Địa chỉ: H Đường B, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Tấn H4, sinh năm: 1996; Địa chỉ: 1 Đ, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • + Anh Phạm Bá H5, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Tổ F, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • + Anh Huỳnh Văn T4, sinh năm: 1993; Địa chỉ: Thôn H, xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • + Anh Đặng Minh Đ1, sinh năm: 2000; Địa chỉ: Tổ D, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • + Anh Lê Tiến H6, sinh năm: 1982; Địa chỉ: Tổ B, phường P, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
  • + Ông Ngô Đình V, sinh năm: 1961; Địa chỉ: Thôn T, xã T,thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 26/11/2023, Mai Đức R rủ Mai Đức Anh T1 (em trai của R), Ngô Đình H2Lê Văn Đ, vào khu vực rừng thuộc tiểu khu A, xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, để cưa cây rừng đưa đi bán lấy tiền tiêu xài thì T1, H2, Đ, đều đồng ý. Sau đó, R chuẩn bị 01 chiếc ghe (đã để sẵn ở đập S), rựa, dây thừng; Được chuẩn bị cưa máy và xăng. Đến trưa cùng ngày, Đ đi xe máy (không có biển số, xe của Được), chở theo cưa máy, xăng, còn R điều khiển xe mô tô BKS: 75D1 - 158.54 (xe của R), chở H2T1, mang theo rựa, dây thừng; cùng nhau đến đập S, thuộc xã H, thành phố H. Tại đây, cả nhóm lấy ghe di chuyển dọc theo khe Đá Bạc để đi vào khu vực rừng cây nói trên. Khi cả nhóm đến khu vực rừng thuộc lô 4d, khoảnh 1, tiểu khu A, xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; thì thấy có các cây keo tràm to, nằm gần khu vực khe nước, thuận tiện cho việc vận chuyển nên các bị cáo thống nhất khai thác cây tại khu vực này.

Các bị cáo bắt đầu khai thác trái phép từ chiều ngày 26/11/2023 đến 04/12/2023 (nghỉ 02 ngày là ngày 01 và 02/12/2023); quá trình khai thác, Được là người trực tiếp sử dụng máy cưa để cưa hạ các cây K; R dùng tay (gang tay) để đo chiều dài khoảng 2 mét rồi đánh dấu để Được cưa ra thành từng lóng gỗ có chiều dài khoảng 2 mét; H2, T1, đi phát quang quanh khu vực cưa cây, rồi bóc vỏ các lóng gỗ đã cưa, sau đó đẩy và lăn các lóng gỗ xuống khe suối. Trong các ngày nói trên, các bị cáo đã khai thác được tổng số 30 cây keo tràm tươi, tuổi đời khoảng 20 năm, mỗi cây cưa ra thành 5 đến 8 lóng gỗ, mỗi lóng trung bình dài 2 mét. Sau đó, các bị cáo cùng nhau vận chuyển các khúc keo tràm xuống để tại khe Đá Bạc, chờ mưa to nước lên sẽ dùng ghe chở về đập S tập kết để đưa đi tiêu thụ. Đến ngày 04/12/2023, trời mưa to, nước lên cao nên H2 mang theo C (máy nổ Cule của ông Ngô Đình V, sinh năm 1961, trú tại thôn T, xã T, thành phố H, là ông nội H2), cùng T1, Được, R; đến vị trí cất dấu gỗ đã khai thác, dùng dây thừng buộc các lóng gỗ vào ghe rồi kéo theo dòng nước ra cất giấu tại chân đập S; mỗi chuyến các bị cáo vận chuyển được khoảng 10 lóng gỗ và số lượt vận chuyển là khoảng 7 đến 8 chuyến; quá trình vận chuyển gỗ cất dấu tại đập S bị thất lạc một số lóng gỗ (lời khai các bị cáo).

Đến 16 giờ cùng ngày, trong khi đang vận chuyển gổ thì bị Đội chuyên trách bảo vệ rừng K - 57, thuộc Ban Q, phát hiện nên R vứt bỏ dây thừng, rựa tại khe Đ rồi cùng Đ bỏ chạy ra đập S; còn T1H2 lái ghe bỏ chạy về đập S. Tại đây, R lấy ghe và C cất giấu dưới dòng nước cách chân đập khoảng 40 mét, rồi các bị cáo đi về nhà.

Vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm:

  • - 01 cái rựa của bị can R (thu giữ tại hiện trường);
  • - 60 lóng gỗ, dọc theo khe Đá Bạc phát hiện trục vớt, tạm giữ 19 lóng gỗ. Tổng cộng là 79 lóng gỗ (thu giữ tại hiện trường);
  • - 01 chiếc ghe; 02 đoạn dây thừng (một đoạn 6,95m, một đoạn 2,5m); 01 xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen đỏ, BKS: 75D1 - 158.54; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A38, màu đen, số IMEII: 863017065795916, số IMEI2: 863017065795908 (thu giữ của bị can Mai Đức R);
  • - 01 cưa máy hiệu STIHL màu trắng - cam; 01 xe máy không rõ nhân hiệu, màu nâu, không có biển số; 01 giấy đăng ký xe mô tô, BKS: 75H2 – 9049 và Giấy bán xe mô tô BKS: 75H2 - 9049 (thu giữ của bị can Lê Văn Đ).

Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại 79 (bảy mươi chín) lóng gỗ thu giữ nêu trên có nguồn gốc từ 30 cây keo bị khai thác trái phép tại lô 4d, khoảnh 1, tiểu khu A, xã D, thị xã H cho Ban Q.

Đối với các vật chứng, gồm: Các lóng gỗ bị thất lạc, 01 cái Cule và 01 đoạn dây thừng, Cơ quan CSĐT Công an thị xã H đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Tại bản kết luận giám định ngày 31/01/2024, của Tổ giám định thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh T, kết luận:

  • Đối với 30 (Ba mươi) cây gỗ rừng bị khai thác:

    Vị trí 30 (Ba mươi) cây rừng khai thác trái pháp luật thuộc lô 4d, khoành 1, tiểu khu A, xã D, thị xã H, do Ban Q quản lý; thuộc trạng thái rừng gỗ trồng núi đất (RTG); chức năng rừng sản xuất; Tên loài (chủng loại) của 30 (Ba mươi) cây rừng bị khai thác được giám định đều là Keo lai có tên khoa học: A1; gốc nhóm VI, thuộc loài thực vật thông thường;

    • Diện tích cây rừng bị cưa hạ trái phép từ gốc cây số 01 đến gốc cây số 30: Do vị trí các cây rừng bị cưa hạ trái phép phân bố theo từng đám nhỏ rãi rác hoặc đơn lẻ theo cây, rừng chưa vỡ tán nên tổ giám định không xác định diện tích thiệt hại;
    • Tổng khối lượng gỗ cây đứng của 30 (ba mươi) cây gỗ bị khai thác là 27,018 m3;
    • Tổng khối lượng gỗ tròn của 30 (ba mươi) cây gỗ bị khai thác là 22,967 m3;
  • Đối với 79 (bảy mươi chín) khúc gỗ tạm giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H:

    Tên loài: (chủng loại) của 79 (bảy mươi chín) khúc gỗ được giám định đều là Keo lai có tên khoa học: A1; gỗ nhóm VI, thuộc loài thực vật thông thường;

    Tổng khối lượng gỗ tròn của 79 (bảy mươi chín) khúc gỗ là 8,895 m3.

Tại Bản kết luận giám định số: 08/KL-KTHS ngày 18/01/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

Các dấu vết trên 30 gốc cây gỗ rừng ký hiệu từ A1 đến A25, A27 đến A30, phần gốc cây gỗ rừng ký hiệu A26.1 và 14 thân cây gỗ rừng ký hiệu từ A31 đến A44, đều do loại công cụ cưa xích tạo ra. Loại công cụ tạo ra các dấu vết nêu trên cùng loại với máy cưa xích, ký hiệu M1 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H gửi làm mẫu so sánh.

Các dấu vết trên phần gốc cây gỗ rừng ký hiệu A26.2 và thân cây gỗ rừng ký hiệu A45 đều do loại công cụ một lưỡi cắt tạo ra. Loại công cụ tạo ra các dấu vết nêu trên cùng loại với cây rựa, ký hiệu M2 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H gửi dùng làm mẫu so sánh.

Tại kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐGTS ngày 23/02/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự UBND thị xã H, kết luận:

  • - 30 (ba mươi) cây gỗ loại Keo lai thuộc nhóm VI, có tổng khối lượng gỗ tròn là 22,967 m có giá trị tại thời điểm bị thiệt hại là: 45.934.000 đồng.
  • - 79 (bảy mươi chín) khúc gỗ loại Keo lai thuộc nhóm VI, có tổng khối lượng gỗ là 8,895 m3 có giá trị tại thời điểm bị thiệt hại là: 17.790.00 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Ban Q đã nhận đủ số tiền là 28.144.000 đồng, do các bị cáo liên đới bồi thường, nên không có yêu cầu gì thêm.

Quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo: Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Ngô Đình H2, Lê Văn Đ đã khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKS-HTh ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn ĐNgô Đình H2; về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà Kiểm sát viên luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm theo bản Cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn ĐNgô Đình H2; về tội: “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, quy định tại khoản 1 Điều 232 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 232; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mai Đức R từ từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 20 tháng đến 24 tháng.
  • Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 232; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Mai Đức Anh T1 từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 12 tháng đến 16 tháng.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 232; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn Đ từ 10 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 20 tháng đến 24 tháng.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 232; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 100 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Đình H2 từ 06 đến 09 tháng Cải tạo không giam giữ.
  • Về hình phạt bổ sung: đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  • Về vật chứng: Áp dụng các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, hóa giá sung công quỹ Nhà nước, gôm: 01 (Một) máy cưa xích hiệu STIHL MS 382 màu cam – trắng; 01 chiếc ghe làm bằng kim loại, nẹp ghe được làm bằng gỗ, chiều dài 7,52m, chiều rộng lớn nhất 1,13m. Đề nghị trả lại cho bị cáo Mai Đức R 01 điện thoại di động hiệu Oppo A38, màu đen, số IMEI1: 863017065795916, số IMEI2: 863017065795908, 01 (Một) xe môtô nhãn Sirius màu đen đỏ, biển số: 75D1 – 158.54; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ2 (Một) xe môtô màu nâu, phần thân vỏ không có, không rõ nhãn hiệu, không có biển số xe, Giấy đăng ký xe môtô 75H2-9049, Giấy bán xe mô tô 75H2-9049.Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây rựa dài 58cm được làm bằng kim loại, trong đó phần cán rựa dài 26cm được quấn dây cao su màu đen; phần lưỡi rựa dài 32cm, 02 (Hai) đoạn dây thừng (một đoạn 6,95m; một đoạn 2,5m).
  • Về án phí, buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến người bào chữa cho bị cáo Ngô Đình H2: Nhất trí về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố đối với bị cáo H2 và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Bị cáo là người chưa thành niên vì vậy hạn chế về nhận thức pháp luật. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 232; Điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 100 Bộ luật hình sự xử bị cáo Ngô Đình H2 06 tháng cải tạo không giam giữ, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ý kiến và lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo thừa nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy đã truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn ĐNgô Đình H2: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các kết luận giám định, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng. Khoảng thời gian từ ngày 26 tháng 11 đến ngày 04 tháng 12 năm 2023, Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2; đã có hành vi vào rừng sản xuất, thuộc lô 4d, khoảnh 1, tiểu khu A, xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, của Ban Q; sử dụng cưa máy, rựa, ghe, khai thác trái phép 30 cây gỗ keo lai, có tên khoa học là A mangium Acacia auriculiformis, thuộc nhóm gỗ VI, thuộc loài thực vật thông thường, với tổng khối lượng gỗ tròn của 30 (ba mươi) cây gỗ bị khai thác là 22,967 m3; gây thiệt hại về tài sản là 45.934.000 đồng. Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 điều 232 Bộ luật Hình sự.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố các bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2 là người có sức khỏe, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi về khai thác, bảo vệ tài nguyên rừng và lâm sản nhưng các bị cáo thiếu ý thức chấp hành pháp luật, thiếu rèn luyện bản thân, coi thường pháp luật, để cưa cây rừng đưa đi bán lấy tiền tiêu xài bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2 cố ý thực hiện hành vi khai thác. Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc cụ thể mà cùng nhau chuẩn bị công cụ, phương tiện, cùng nhau thực hiện hành vi khai thác lâm sản trái pháp luật để hưởng lợi. Tuy nhiên bị cáo R là người rủ rê chuẩn bị các công cụ phạm tội và trực tiếp thực hiện việc đo chiều dài rồi đánh dấu để Được cưa ra thành từng lóng gỗ. Được chuẩn bị cưa máy và xăng và là người trực tiếp sử dụng máy cưa để cưa hạ các cây Keo. H2, T1 là đồng phạm giúp sức với vai trò thứ yếu. Do đó, các bị caó R và bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò cao hơn các bị cáo T1 và bị cáo H2. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác, bảo vệ tài nguyên rừng và lâm sản gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn thị xã H, vì vậy cần phải xử lý các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, có một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2 Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo quy định tại các điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật. Ngoài ra, bị cáo Mai Đức RMai Đức Anh T1 có cậu là ông Nguyễn Văn N1 là Liệt sĩ, có bố ruột là M1 Đại Thắng được Chủ tịch N2 thưởng Huân chương chiến công hạng ba; Bị cáo Được có bố ruột là ông Lê Chí N được chủ tịch nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang nên các bị cáo R,T1, Được được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2 không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Xét loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, căn cứ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2, Hội đồng xét xử thấy rằng: Số gỗ các bị cáo khai thác đã bị chặt hạ của 30 (ba mươi) cây gỗ bị khai thác là 22,967 m3; gây thiệt hại về tài sản là 45.934.000 đồng. Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo R, T1, Được thuộc gia đình có công với cách mạng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà có thể cho các bị cáo được hưởng án treo là cũng đủ tác dụng để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung; Xét đề nghị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy có đủ điều kiện và căn cứ để hưởng án treo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật Việt Nam, do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài đời sống xã hội.

Đối với bị cáo Ngô Đình H2 phạm tội khi đã đủ 16 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Điều 91, Điều 100 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án phù hợp với nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Ngô Đình H2, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ và giao bị cáo cho gia đình, Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự là “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tại biên bản xác minh tài sản của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và tại phiên tòa đã xác định các bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ không có tài sản riêng, hiện không có công việc và thu nhập ổn định. Tại biên bản xác minh tài sản của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và tại phiên tòa đã xác định bị cáo Ngô Đình H2 không có tài sản riêng, hiện không có công việc và thu nhập ổn định. Nên không phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là Ban Q đã nhận đủ số tiền là 28.144.000 đồng, do các bị cáo liên đới bồi thường, không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: Xét thấy, Đối với 01 (Một) máy cưa xích hiệu STIHL MS 382 màu cam – trắng; 01 chiếc ghe làm bằng kim loại, nẹp ghe được làm bằng gỗ, chiều dài 7,52m, chiều rộng lớn nhất 1,13m, đây là nhưng công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, hóa giá sung công quỹ Nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A38, màu đen, số IMEI1: 863017065795916, số IMEI2: 863017065795908, 01 (Một) xe môtô nhãn Sirius màu đen đỏ, biển số: 75D1 – 158.54 là của bị cáo Mai Đức R, không liên quan đến tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo Mai Đức R; Đối với 01 (Một) xe môtô màu nâu, phần thân vỏ không có, không rõ nhãn hiệu, không có biển số xe, Giấy đăng ký xe môtô 75H2-9049, Giấy bán xe mô tô 75H2-9049 là của bị cáo Nguyễn Văn Đ3, không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ3. Đối với 01 (Một) cây rựa dài 58cm được làm bằng kim loại, trong đó phần cán rựa dài 26cm được quấn dây cao su màu đen; phần lưỡi rựa dài 32cm, 02 (Hai) đoạn dây thừng (một đoạn 6,95m; một đoạn 2,5m) là công cụ dùng để phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí: các bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2 phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản".
  2. Về trách nhiệm hình sự:
    • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 232, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ.

      Xử phạt:

      • + Bị cáo Mai Đức R 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      • + Bị cáo Lê Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      • + Bị cáo Mai Đức Anh T1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

      Giao các bị cáo: Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

      Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

      Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

    • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 232; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91;Điều 100 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Đình H2, xử phạt bị cáo Ngô Đình H2 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt Cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

      Giao bị cáo Ngô Đình H2 cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên xử:
    • - Trả lại cho bị cáo Mai Đức R: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A38, màu đen, số IMEI1: 863017065795916, số IMEI2: 863017065795908, 01 (Một) xe môtô nhãn Sirius màu đen đỏ, biển số: 75D1 – 158.54;
    • - Trả lại cho bị cáo Lê Văn Đ: 01 (Một) xe môtô màu nâu, phần thân vỏ không có, không rõ nhãn hiệu, không có biển số xe, Giấy đăng ký xe môtô 75H2-9049, Giấy bán xe mô tô 75H2-9049.
    • - Tịch thu, hóa giá sung Ngân sách Nhà nước, gồm: 01 (Một) máy cưa xích hiệu STIHL MS 382 màu cam – trắng; 01 chiếc ghe làm bằng kim loại, nẹp ghe được làm bằng gỗ, chiều dài 7,52m, chiều rộng lớn nhất 1,13m.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) cây rựa dài 58cm được làm bằng kim loại, trong đó phần cán rựa dài 26cm được quấn dây cao su màu đen; phần lưỡi rựa dài 32cm, 02 (Hai) đoạn dây thừng (một đoạn 6,95m; một đoạn 2,5m).

    Vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hương Thuỷ.

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mai Đức R, Mai Đức Anh T1, Lê Văn Đ, Ngô Đình H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thị xã Hương Thủy;
  • - Phòng Hồ sơ CA tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Chi cục THADS thị xã Hương Thủy;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản

  • Số bản án: 31/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Đức R, tên gọi khác: Không, sinh ngày 20/7/1990 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế Mai Đức Anh T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 20/3/1999 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: thôn Đ, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế Lê Văn Đ, tên gọi khác: Không, sinh ngày 02/8/1992 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú thôn K, xã H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế Ngô Đình H, tên gọi khác: Không, sinh ngày 31/7/2007 ( tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 tuổi 3 tháng 25 ngày) tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger