Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14-5-2024

“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Lâm Thị Mai Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trang Thị Cẩm Nhuần
  2. Ông Thạch Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Thạch Thị Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh: Ông Sơn Nhựt Nhân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 94/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Kiên Thị K, sinh năm 1975 (Có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Trịnh Thanh Q, sinh năm 1971 (Vắng mặt lần thứ 2);

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 19/02/2024 và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Kiên Thị K trình bày:

Chị và anh Trịnh Thanh Q được gia đình hai bên chấp thuận, tiến tới hôn nhân vào năm 1991, có tổ chức đám cưới nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 02 con chung tên Trịnh Thanh T, sinh năm 1994 và Trịnh Lê Tấn Đ, sinh năm 1994. Thời gian càng về sau thì cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, lý do anh Q không lo ăn chăm sóc gia đình mà chỉ biết vui chơi bên ngoài, ham mê cờ bạc đá gà, trong thời gian này anh Q có nhiều mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài, chị biết được có khuyên nhủ và tha thứ cho anh Q nhiều lần nhưng anh Q không sửa đổi tính tình mà ngược lại còn có thái độ ghen tuông vô cớ, thường xuyên xúc phạm chị và cha mẹ chị, có hành vi hành hung đánh đập làm ảnh hưởng thể chất, tinh thần của chị. Do không thể nào tiếp tục cuộc sống chung này nên chị đã về nhà mẹ ruột sống ly thân với anh Q cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu ly hôn với anh Q. Về con chung: 02 con chung đã trưởng thành tự quyết định cuộc sống của mình không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung: Chị K cho rằng không có, không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Đối với anh Trịnh Thanh Q, sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhân dân huyện T đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự có cơ hội đoàn tụ và thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên tại các phiên họp, hòa giải anh Q đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, đối với bị đơn vắng mặt đến lần thứ 2 không rõ lý do, không có ý kiến trình bày.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự tại phiên tòa cho rằng việc thụ lý vụ án “Tranh chấp ly hôn” là đúng quan hệ tranh chấp. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đảm bảo đúng quy định, đối với bị đơn còn vắng mặt không chấp hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Kiên Thị K. Hai con chung đã thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về nợ chung: Chị K khai không có, không yêu cầu nên đề nghị không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Chị K khai không có, không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về án phí: Buộc Chị K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn”. Bị đơn có ĐKHKTT tại Khóm A, thị trấn C, huyện T, tỉnh Trà Vinh, hiện đang tạm trú tại Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh.

[2] Về đưa người tham gia tố tụng và hòa giải: Sau khi thụ lý Tòa án đã ra thông báo về việc thụ lý vụ án và tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 196, 208, 209, 210 và Điều 211 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên vụ án không tiến hành hòa giải được do anh Trịnh Thanh Q vắng mặt đến lần thứ hai. Anh Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử đến lần thứ hai nhưng vắng mặt, đối với Chị K có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3] Về nội dung: Chị Kiên Thị K khai chị và anh Q xác lập quan hệ hôn nhân, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991 tuy nhiên hai bên không đi đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình thì việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch, hôn nhân của Chị K và anh Q không tuân thủ theo quy định nên không có giá trị pháp lý. Về nguyên nhân ly hôn, Chị K cho rằng anh Q không lo ăn chăm sóc gia đình mà chỉ biết vui chơi bên ngoài, ham mê cờ bạc đá gà, anh Q có mối quan hệ bất chính với người phụ nữ khác bên ngoài, chị biết được có khuyên nhủ và tha thứ cho anh Q nhiều lần nhưng anh Q không sửa đổi tính tình mà ngược lại còn có thái độ ghen tuông vô cớ, thường xuyên xúc phạm chị và cha mẹ chị, có hành vi hành hung đánh đập làm ảnh hưởng thể chất, tinh thần của chị. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần đến phiên hòa giải để hai bên có điều kiện hòa giải đoàn tụ với nhau nhưng anh Q không đến, tại phiên tòa anh Q cũng vắng mặt không có lý do, điều đó cho thấy anh Q không có thiện chí hàn gắn đoàn tụ lại với chị Kiều. Qua kết quả xác minh (bút lục số 25) thể hiện đầu năm 2024 Chị K có trình báo với Công an xã Tân Hoà việc anh Q có hành vi hành hung chị trong đêm, Công an có đến hoà giải khuyên ngăn. Xét thấy anh Q có hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng, nay Chị K cương quyết ly hôn nên căn cứ các Điều 9, 14 Luật hôn nhân và gia đình Hội đồng xét xử không công nhận vợ chồng giữa Chị K và anh Q.

[4] Về con chung: 02 con chung là Trịnh Thanh T, sinh năm 1993 và Trịnh Lê Tấn Đ, sinh năm 1993 đã thành niên tự quyết định cuộc sống của mình, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung: Chị K xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Anh Trịnh Thanh Q có quyền khởi kiện trong vụ án khác về chia tài sản sau khi ly hôn nếu có tranh chấp.

[6] Về nợ chung: Chị K xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[7] Xét thấy đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần là phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận toàn bộ.

[8] Về án phí: Buộc chị Kiên Thị K phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Kiên Thị K và anh Trịnh Thanh Q.
  2. Về con chung: Các con chung Trịnh Thanh T, sinh năm 1994 và Trịnh Lê Tấn Đ, sinh năm 1994 đã thành niên tự quyết định cuộc sống của mình nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  3. Về tài sản chung: Chị Kiên Thị K xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết. Anh Trịnh Thanh Q có quyền khởi kiện trong vụ án khác về chia tài sản sau khi ly hôn nếu có tranh chấp.
  4. Về nợ chung: Chị Kiên Thị K xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
  5. Về án phí: Chị Kiên Thị K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000425 ngày 28/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Trà Vinh.
  6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai báo cho nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện T;
  • - THADS huyện T;
  • - Các đương sự
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khổi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger