Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14 - 5 - 2024

V/v Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Hoàn

Ông Triệu Kim Bình

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Bùi Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 07/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 26/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H Sinh năm 1985

ĐKHKTT tại: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Bùi Văn T Sinh năm 1978

Địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên toà vắng mặt chị H và anh T. Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày: Chị và anh Bùi Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 05/6/2007 tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn, vợ chồng hạnh phúc được 5 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không không có con chung, mặc dù hai vợ chồng đã đi chạy chữa khắp nơi nhưng không có kết quả, vợ chồng cũng đã động viên nhau để cố gắng vì tương lai nhưng không như mong muốn, rồi tình cảm vợ chồng dần dần lạnh nhạt, mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải, dàn xếp nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay, không ai còn quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn T.

Về con chung: Chị và anh Bùi Văn T không có con chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản: Chị Bùi Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Bùi Văn T để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị H nhưng anh T không có mặt nên không có lời khai của anh T và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); chị H đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, anh T không thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51; 56 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H. Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Bùi Văn T. Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Bùi Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Bùi Văn T. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hoá.

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Bùi Văn T không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh T theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.

Anh T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải nhưng anh T không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Toà án cũng đã triệu tập hợp lệ anh T lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh T vẫn không có mặt mà không có lý do. Chị Bùi Thị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định Điều 227, Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị H và anh T.

[2] Về hôn nhân:

Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05/6/2007 tại UBND xã L, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, như vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do anh T và chị không có con chung, mặc dù chị và anh T cùng gia đình đã cố gắng động viên anh, chị đi chạy chữa nhiều lần nhưng không có kết quả, rồi dần dần tình cảm vợ chồng lạnh nhạt không có hạnh phúc. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2023 cho đến nay không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Việc này đã được chính quyền xã địa phương xác nhận và cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà Tòa án đã tiến hành thu thập. Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh T lên làm việc để anh T được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh T đều không có mặt, thể hiện anh T không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, thời gian sống ly thân của chị H và anh T kéo dài nên hôn nhân trên thực tế không còn tồn tại. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị H và anh T đã lâm vào tình trạng bế tắc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Bùi Văn T.

[3] Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn T không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H không yêu cầu giải quyết, anh Bùi Văn T không trình bày ý kiến về phần tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 51; 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H. Xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn anh Bùi Văn T.

2. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm việc ly hôn là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: 0004175 ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa. Chị Bùi Thị H đã nộp đủ tiền án phí.

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị H và anh T. Chị Bùi Thị H và anh Bùi Văn T được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Lộc Thịnh;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Thành

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Triệu Kim Bình

Phạm Đức Hoàn

Phạm Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ về ly hôn

  • Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn, tranh chấp nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger