|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HS-ST
Ngày 13-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh H.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Hùng
Bà Tống Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Minh Châu - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Đức Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Khổng Minh T; tên gọi khác: Không; sinh ngày 15 tháng 01 năm 1964 tại tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú và nơi ở: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khổng Xuân P và bà Chu Thị V; có vợ và 02 con: con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Bản án số 03/HSST ngày 20/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc. T đã chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 22/8/2021; chấp hành xong án phí, hình phạt bổ sung và các quyết định khác của Bản án ngày 05/6/2020.
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
-
Khổng Xuân T1; tên gọi khác: Không, sinh ngày 18 tháng 9 năm 1991 tại huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú và nơi ở: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Khổng Minh T và bà Nguyễn Thị Hồng Đ; có vợ và 03 con; Con lớn sinh năm 2011; Con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
-
Nguyễn Văn T2; tên gọi khác: Không, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1989 tại huyện P, tỉnh Phú Thọ; Nơi thường trú và nơi ở: Khu G, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Triệu Thị Minh H1; có vợ và 02 con: Con lớn sinh năm 2013; Con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 09/12/2022, Công an huyện P ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích cho sức khỏe người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” (Đã chấp hành nộp phạt ngày 21/12/2022).
Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 17 giờ 20 phút ngày 01/02/2024, tại đoạn đường dân sinh thuộc khu N, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Công an huyện P tiến hành kiểm tra đối với Khổng Xuân T1, sinh năm 1991, nơi thường trú: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ phát hiện trong điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A52, lắp sim số 0985.481.238 mà T1 sử dụng có các tin nhắn mua bán số lô ngày 22/02/2023 giữa T1 với Nguyễn Văn T2, sinh năm 1989, nơi thường trú: Khu G, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ và Khổng Minh T, sinh năm 1964, nơi thường trú: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ (bố đẻ của T1). Tổ công tác Công an huyện P đã mời người chứng kiến, lập biên bản sự việc và thu giữ của T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A52, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 359461651107063, số IMEI 2: 359889271107065, lắp sim số 0985.481.238.
Tại Cơ quan điều tra, Khổng Xuân T1 khai nhận: T1 biết ông Khổng Minh T (bố đẻ của T1) có nhận ghi các số lô, số đề và bản thân T1 có quen biết với Nguyễn Văn T2 nên vào khoảng 17 giờ 50 phút ngày 22/02/2023, T1 đang ở nhà thì T2 sử dụng tài khoản Zalo có tên “Nguyen Van T3” đăng ký bằng số điện thoại 0354.141.xxx của T2 nhắn tin đến tài khoản Zalo có tên “Tùng Khổng” được đăng ký bằng số điện thoại 0985.481.xxx của T1 với nội dung: “Lo 90.78 moi con 50điem.lo39.100điem nhá” có nghĩa là T2 mua của T1 số lô 90, 78 mỗi số 50 điểm, số lô 39 là 100 điểm. T1 nhắn lại “ok” có nghĩa là đồng ý bán các số lô trên cho T2. T1 bảo T2 chuyển tiền mua số lô đến tài khoản ngân hàng của chị Lương Thị H2, sinh năm 1991, nơi thường trú: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ là vợ của T1 để thanh toán tiền mua số lô. T2 đã sử dụng tài khoản ngân hàng có số [...], Ngân hàng V1 của mình chuyển số tiền 4.600.000 đồng đến số tài khoản ngân hàng V1 có số [...] đứng tên chị Lương Thị H2 số tiền 4.600.000 đồng. Sau khi nhận các số lô mà T2 mua, T1 sử dụng tài khoản zalo “Tùng K” nhắn tin đến tài khoản zalo “Khongminhthuan” đăng ký bằng số điện thoại 0339.048.xxx của Khổng Minh T với nội dung “Lo 90.78 moi con 50điem.lo39.100điem nhá” để chuyển các số lô mà T2 mua của T1 mua cho T. Đến 17 giờ 53 phút cùng ngày, T nhắn lại “ok” có nghĩa là T đồng ý bán các số lô mà T1 chuyển cho T. Việc T1 nhận số lô của T2 là do T1 quen biết với T2 từ trước, T2 biết ông T ghi số lô, số đề nhưng không có số điện thoại của ông T nên qua T1 để chuyển số lô cho ông T. Việc mua bán số lô giữa T1 với T không có thỏa thuận, bàn bạc từ trước, T1 cũng không được hưởng lợi gì. Số tiền 4.600.000 đồng mà T2 mua số lô, T1 đã thanh toán cho ông T bằng tiền mặt, T1 nhận bán cho T2 23.000 đồng/ 01 điểm lô, T1 đã chuyển cho ông T 23.000 đồng/ 01 điểm lô.
Về cách thức mua bán số lô, các bị can thống nhất như sau: T1 bán cho T2 với giá tiền là 23.000 đồng/ 01 điểm lô; T1 sẽ so các số lô T2 mua với kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng cùng ngày để xác định thắng thua. Số lô trúng thưởng là số lô trùng với hai số cuối của một trong tất cả các giải của xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng cùng ngày thì sẽ được trả số tiền 80.000 đồng/ 01 điểm lô trúng thưởng.
Qua đối chiếu với kết quả mở thưởng sổ số kiến thiết miền B cùng ngày, T2 trúng thưởng 50 điểm số lô 78, thắng số tiền 4.000.000 đồng. Số tiền trúng thưởng, T đã thanh toán cho T1 bằng tiền mặt (T khai nhận do thời gian đã lâu nên không nhớ cụ thể vào ngày nào). Đến ngày 23/02/2023, T1 đã sử dụng tài khoản ngân hàng có số [...], Ngân hàng V1 của chị H2 chuyển khoản đến số tài khoản 103873282803, Ngân hàng V1 của T2 để thanh toán số tiền 4.000.000 đồng.
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn T2 đã tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, bên trong lắp sim số 0354.141.666 (đây là chiếc điện thoại T2 nhắn tin mua số lô của T1); Khổng Minh T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, bên trong lắp sim số 0339.048.577 (đây là chiếc điện thoại Thuận nhắn tin nhận các số lô của T1). Tiến hành kiểm tra 02 chiếc điện thoại nêu trên, ngoài các tin nhắn mua, bán số lô vào ngày 22/02/2024 không có nội dung nào liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.
Các bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hình vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai của các bị can phù hợp với những vật chứng đã thu giữ, phù hợp với nhau và các tài liệu điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, xác định số tiền giữa T1, T2 và T đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô ngày 22/02/2024 là 8.600.000 đồng (bao gồm 4.600.000 đồng là tiền mua bán số lô và 4.000.000 đồng là tiền trúng thưởng).
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Bản Cáo trạng số: 32/CT-VKSPN ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh truy tố Khổng Minh T, Khổng Xuân T1, Nguyễn Văn T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, x khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Khổng Minh T
Tuyên bố bị cáo Khổng Minh T phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Khổng Minh T
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điều 36, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Khổng Xuân T1
Tuyên bố bị cáo Khổng Xuân T1 phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt Khổng Xuân T1 từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án Hình sự Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định Thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Khổng Xuân T1
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1,2 Điều 51; điều 36, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T2
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt Nguyễn Văn T2 từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án Hình sự Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định Thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T2
Về xử lý vật chứng: Căn cư điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số 0985.418.238 trong chiếc điện thoại thu giữ của Khổng Xuân T1; 01 sim số 0339.048.577 trong chiếc điện thoại thu giữ của Khổng Minh T; 01 sim số 0354.141.666 trong chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn T2
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Số tiền 4.000.000 đ (Bốn triệu đồng) do Nguyễn Văn T2 tự nguyện giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A52, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 359461651107063, số IMEI 2: 359889271107065, điện thoại đã cũ, bị sứt, vỡ mép đầu màn hình, điện thoại không lên nguồn thu giữ của Khổng Xuân T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, vỏ màu đen, số IMEI 1: 357368580959419, số IMEI 2: 357497680959415, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Khổng Minh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, vỏ màu đen, số IMEI 1: 866787054748590, số IMEI 2: 866787054748582,, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn T2.
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu chứng cứ ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh)
- Buộc bị cáo Khổng Minh T phải nộp 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án các bị Khổng Minh T, Khổng Xuân T1, Nguyễn Văn T2 buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất, phù hợp với nhau, phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Do có mối quan hệ là bố đẻ và biết Khổng Minh T có bán số lô đề nên khoảng 17 giờ 50 phút ngày 22/02/2023, tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Khổng Xuân T1 đã sử dụng điện thoại di động bán số lô cho Nguyễn Văn T2; sau đó T1 chuyển tiếp toàn bộ các số lô trên cho Khổng Minh T. Tổng số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc là 8.600.000 đồng (bao gồm 4.600.000 đồng là tiền mua bán số lô và 4.000.000 đồng là tiền trúng thưởng).
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân do đó cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Hành vi của các bị cáo Khổng Minh T4, Khổng Xuân T1, Nguyễn Văn T2 đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Nội dung điều luật quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”
Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:
Trong vụ án này, các bị cáo đều là đồng phạm về tội Đánh bạc với vai trò là người thực hành.rong vụ án này các bị cáo đều là người thực hành. Việc T1 bán số lô sau đó chuyển cho T4 không có sự bàn bạc, thoả thuận từ trước, T1 cũng không nhằm mục đích hưởng lợi nên hành vi trên không cấu thành tội Tổ chức đánh bạc.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên các bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo biết hành vi đánh bạc không những là vi phạm pháp luật mà còn gây mất trật tự công cộng, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác cũng như ảnh hưởng đến kinh tế và hạnh phúc gia đình nhưng các bị cáo vẫn thực hiện.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Trong vụ án này, bị cáo Khổng Minh T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bố đẻ là liệt sĩ nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s,x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo Khổng Xuân T1 và Nguyễn Văn T2 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ông bị cáo là liệt sĩ nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm I, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo đều đánh bạc với số tiền 8.400.000 đồng nhưng bị cáo Khổng Minh T nhân thân đã có 01 bản án tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn phạm tội, tuy nhiên bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ và không có tình tiết tăng nặng nào nên chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo bị cáo. Giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách là phù hợp
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T2 nhân thân đã 1 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, có 03 tình tiết giảm nhẹ nên chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ. Giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách đủ cải tạo, giáo dục bị cáo.
Đối với bị cáo Khổng Xuân T1 có 03 tình tiết giảm nhẹ và không có nhân thân nên cần cho bị cáo hưởng mức thấp hình phạt thấp hơn bị cáo T2 với hình thức phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp. Giao bị cáo cho UBND xã nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách đủ cải tạo, giáo dục các bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đồng đến 50.000.000 đồng”
Xét thấy các bị cáo là lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối các bị cáo là phù hợp
Về xử lý vật chứng:
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số 0985.418.238 trong chiếc điện thoại thu giữ của Khổng Xuân T1; 01 sim số 0339.048.577 trong chiếc điện thoại thu giữ của Khổng Minh T; 01 sim số 0354.141.666 trong chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn T2 do không còn giá trị sử dụng
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Số tiền 4.000.000 đ (Bốn triệu đồng) do Nguyễn Văn T2 tự nguyện giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A52, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 359461651107063, số IMEI 2: 359889271107065, điện thoại đã cũ, bị sứt, vỡ mép đầu màn hình, điện thoại không lên nguồn thu giữ của Khổng Xuân T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, vỏ màu đen, số IMEI 1: 357368580959419, số IMEI 2: 357497680959415, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Khổng Minh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, vỏ màu đen, số IMEI 1: 866787054748590, số IMEI 2: 866787054748582,, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn T2 là cong cụ phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu chứng cứ ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh)
- Cần buộc bị cáo Khổng Minh T phải nộp 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước là số tiền các bị cáo dùng để phạm tội.
[3] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về các căn cứ pháp luật, đề xuất về hình phạt, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp.
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, x khoản 1, Điều 51; Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Khổng Minh T.
Tuyên bố bị cáo Khổng Minh T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt Khổng Minh T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục người đó.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục bị cáo được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Khổng Minh T
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, 2 Điều 51; điều 36, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Khổng Xuân T1.
Tuyên bố bị cáo Khổng Xuân T1 phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt Khổng Xuân T1 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án Hình sự Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định Thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Khổng Xuân T1.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, 2 Điều 51; điều 36, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T2
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt Nguyễn Văn T2 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, . Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án Hình sự Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ nhận được Quyết định Thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo Nguyễn Văn T2
Giao bị cáo Khổng Xuân T1 và Nguyễn Văn T2 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật Thi hành án Hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo: Khổng Xuân T1 và Nguyễn Văn T2. Bị cáo Khổng Xuân T1 và Nguyễn Văn T2 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự và Luật Thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số 0985.418.238 trong chiếc điện thoại thu giữ của Khổng Xuân T1; 01 sim số 0339.048.577 trong chiếc điện thoại thu giữ của Khổng Minh T; 01 sim số 0354.141.666 trong chiếc điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn T2
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: Số tiền 4.000.000 đ (Bốn triệu đồng) do Nguyễn Văn T2 tự nguyện giao nộp; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A52, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 359461651107063, số IMEI 2: 359889271107065, điện thoại đã cũ thu giữ của Khổng Xuân T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, vỏ màu đen, số IMEI 1: 357368580959419, số IMEI 2: 357497680959415, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Khổng Minh T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, vỏ màu đen, số IMEI 1: 866787054748590, số IMEI 2: 866787054748582, điện thoại đã qua sử dụng, thu giữ của Nguyễn Văn T2.
(Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu chứng cứ ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Ninh)
- Buộc bị cáo Khổng Minh T phải nộp 4.600.000 đồng (bốn triệu sáu trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Căn khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án bị cáo Khổng Minh T, Khổng Xuân T1 và Nguyễn Văn T2 buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự
Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Thanh Huyền |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tội đánh bạc
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khổng Minh Thuận và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
