TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 31/2024/HS-ST Ngày: 13-6-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thiên Quan
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Đăng An - Ông Phạm Xuân Thành.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Mai Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải tham gia phiên tòa: Ông Tài Đại Diện - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Bị cáo: Huỳnh Thị H, sinh ngày 01-01-1960 tại Ninh Thuận.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 0/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông: Huỳnh A, sinh năm 1934 (Chết) và bà Trịnh Thị H1, sinh năm 1936 (Chết). Chồng: Trần Ngọc N, sinh năm: 1959. Có 07 người con, lớn nhất sinh năm: 1982, nhỏ nhất sinh năm: 1994.
Nhân thân: Không.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo tại ngoại, hiện đang bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị M, sinh năm: 1975.
- Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm: 1970.
- Bà Lâm Thị P, sinh năm: 1956.
- Bà Lại Thị Như H2, sinh năm: 1952.
Trú tại: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Bà Nguyễn Thị Minh P1, sinh năm: 1973.
- Bà Trần Thị Thu D, sinh năm: 1980.
Cùng trú tại: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
(Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Phiên tòa được tiến hành tại hai điểm cầu, điểm cầu trung tâm tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, điểm cầu thành phần tại Nhà tạm giữ Công an huyện N.
- Tham gia tại điểm cầu trung tâm gồm có: Hội đồng xét xử, Thư ký, đại diện Viện kiểm sát và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Tham gia tại điểm cầu thành phần gồm có bị cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đầu năm 2023, thấy nhiều người dân trên địa bàn thị trấn K, huyện N có nhu cầu vay tiền để sinh hoạt, buôn bán nên bị cáo Huỳnh Thị H đã cho những người có nhu cầu vay tiền dưới hình thức trả lãi đứng hàng tháng, lãi suất dao động từ 0,5%/ngày đến 01%/ ngày tương đương lãi suất từ 182,5%/năm đến 365%/năm, cao gấp 9,12 đến 18,25 lần mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Việc cho vay chỉ thỏa thuận bằng miệng, không có làm hợp đồng, bị cáo không thu giữ giấy tờ gì của người vay. Ngày 16-01-2024, Cơ quan điều tra Công an huyện N phát hiện, đã tạm giữ của bị cáo H 01 điện thoại di động, số tiền 540.000 đồng và tiến hành khám xét khẩn cấp chổ ở của bị cáo H tại khu phố K, thị trấn K, huyện N.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo H khai nhận từ tháng 01 đến tháng 12 năm 2023, đã cho 06 người vay, số tiền cho vay, tiền lãi của từng người như sau:
- Bà Trần Thị M vay số tiền 19.000.000 đồng từ tháng 11 năm 2023, lãi suất 01%/ngày. Bà M đã trả lãi 20 ngày (01%/ngày x 19.000.000 đồng x 20 ngày) với số tiền là 3.800.000 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 208.219 đồng, lãi suất trên 20% là 3.591.781 đồng. Sau đó bà M xin giảm lãi xuống còn 0,63%/ngày và tiếp tục trả lãi 35 ngày (0,63%/ngày x 19.000.000 đồng x 35 ngày) là 4.211.667 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 364.384 đồng, lãi suất trên 20% là 3.847.283 đồng.
Tổng số ngày bà M trả lãi là 55 ngày tương ứng số tiền lãi là 8.011.667 đồng, trong đó lãi suất đến 20% là 572.603 đồng, lãi suất trên 20% là 7.436.848 đồng - đây là khoản tiền thu lợi bất chính. Hiện bà M trả 8.000.000 đồng tiền gốc và còn nợ 11.000.000 đồng tiền gốc.
- Ông Nguyễn Tấn L vay 20.000.000 đồng từ tháng 01 năm 2023, lãi suất 01%/ngày. Ông L đã trả lãi 90 ngày (01%/ngày x 20.000.000 đồng x 90 ngày) với số tiền là 18.000.000 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 986.301 đồng, lãi suất trên 20% là 17.013.699 đồng – đây là khoản tiền thu lợi bất chính. Hiện nay ông L đã trả hết 20.000.000 đồng tiền gốc.
- Bà Lâm Thị P vay 10.000.000 đồng từ tháng 03 năm 2023, lãi suất 0.5%/ngày. Bà P đã trả lãi 150 ngày (0,5%/ngày x 10.000.000 đồng x 150 ngày) với số tiền là 7.500.000 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 821.918 đồng, lãi suất trên 20% là 6.678.082 đồng – đây là khoản tiền thu lợi bất chính. Hiện nay bà P đã trả hết 10.000.000 đồng tiền gốc.
- Bà Lại Thị Như H2 vay 28.000.000 đồng từ tháng 06 năm 2023, lãi suất 01%/ngày. Bà H2 đã trả lãi 180 ngày (01%/ngày x 28.000.000 đồng x 180 ngày) là 50.400.000 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 2.761,644 đồng, lãi suất trên 20% là 47.638.356 đồng – đây là khoản tiền thu lợi bất chính. Hiện nay bà H2 đã trả 6.000.000 đồng tiền gốc và còn nợ 22.000.000 đồng tiền gốc.
- Bà Nguyễn Thị Minh P1 vay 6.000.000 đồng từ tháng 12 năm 2023, lãi suất 0,5%/ngày. Bà P1 đã trả lãi 20 ngày (0,5%/ngày x 6.000.000 đồng x 20 ngày) với số tiền là 600.000 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 65.753 đồng, lãi suất trên 20% là 534.247 đồng – đây là khoản tiền thu lợi bất chính. Sau đó bà P1 xin không trả lãi nữa mà chỉ trả gốc. Hiện bà P1 đã trả hết 6.000.000 đồng tiền gốc.
- Bà Trần Thị Thu D vay 9.000.000 đồng từ tháng 01 năm 2023, lãi suất 01%/ngày. Bà D đã trả lãi 90 ngày (01%/ngày x 9.000.000 đồng x 90 ngày) với số tiền là 8.100.000 đồng, trong đó lãi suất từ 01% đến 20% là 443.836 đồng, lãi suất trên 20% là 7.656.164 đồng – đây là khoản tiền thu lợi bất chính. Hiện bà D đã trả tiền gốc 5.000.000 đồng tiền gốc và còn nợ 4.000.000 đồng tiền gốc.
Những lần cho vay trên đều có bảng kê kèm theo, tổng số tiền bị cáo Huỳnh Thị H cho 06 người vay trên vay là 92.000.000 đồng. Tiền lãi bị cáo H thu được là 92.611.667 đồng, trong đó lãi suất hợp pháp (20%) là 5.652.055 đồng, lãi suất trên 20% là 86.959.612 đồng – đây là số tiền thu lời bất chính. Số tiền gốc người vay đã trả cho bị cáo H là 55.000.000 đồng (gồm bà Trần Thị M 8.000.000 đồng, ông Nguyễn Tấn L 20.000.000 đồng, bà Lâm Thị P 10.000.000 đồng, bà Lại Thị Như H2 6.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị Minh P1 6.000.000 đồng và Trần Thị Thu D 5.000.000 đồng) và 37.000.000 đồng của những người vay chưa trả cho bị cáo H (gồm bà Trần Thị M 11.000.000 đồng, Lại Thị Như H2 22.000.000 đồng, Trần Thị Thu D 4.000.000 đồng).
Ngoài ra, bị cáo Huỳnh Thị H còn cho bà Nguyễn Thị H3, bà Võ Thị Tuyết E vay tiền nhưng không thuộc trường hợp cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý trong vụ án này.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 20-5-2024 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Thị H.
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị H từ 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) đến 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
- - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- + Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu FORME màu xanh bên trong có sim số 0978831905, số IMEI 1: 355055093832988, số IMEI 2: 35500509382996, đây là công cụ phạm tội.
- + Buộc bị cáo Huỳnh Thị H nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 55.000.000 đồng là tiền bị cáo H dùng để cho vay (người vay đã trả) và số tiền 5.652.055 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 2015; Tiếp tục tạm giữ số tiền 540.000 đồng của bị cáo huỳnh Thị H4 để đảm bảo thi hành án.
- + Buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 11.000.000 đồng, bà Lại Thị Như H2 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 22.000.000 đồng và bà Trần Thị Thu D phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 4.000.000 đồng, đây là số tiền bà M, bà H2 và bà D vay của bị cáo H4 nhưng chưa trả cho bị cáo.
- + Đối với số tiền 86.959.612 đồng là tiền lãi vượt mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 mà bị cáo Huỳnh Thị H thu lợi bất chính của 06 người vay trên. Những người vay tiền này không yêu cầu bị cáo H trả lại nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Trong thời gian từ tháng 01 năm 2023 đến tháng 12 năm 2023, bị cáo Huỳnh Thị H đã cho 06 người trên địa bàn huyện N vay với tổng số tiền là 92.000.000 đồng, mức lãi suất từ 182,5%/năm đến 365%/năm, cao gấp 9,12 đến 18,25 lần so với mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, bị cáo Huỳnh Thị H thu lợi bất chính số tiền 86.959.612 đồng (Tám mươi sáu triệu, chín trăm năm mươi chín ngàn, sáu trăm mười hai đồng).
Hành vi của các bị cáo Huỳnh Thị H đã cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự; Cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 20-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Xét tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo Huỳnh Thị H không những đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải xử lý theo quy định của pháp luật để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Trên cơ sở xem xét nguyên nhân phát sinh tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51, bị cáo có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ sức răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu FORME màu xanh bên trong có sim số 0978831905, số IMEI 1: 355055093832988, số IMEI 2: 35500509382996, đây là công cụ dùng vào việc phạm tội.
- + Buộc bị cáo Huỳnh Thị H nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 55.000.000 đồng là tiền bị cáo H dùng để cho vay (người vay đã trả) và số tiền 5.652.055 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 2015; Tiếp tục tạm giữ số tiền 540.000 đồng của bị cáo Huỳnh Thị H để đảm bảo thi hành án.
- + Buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 11.000.000 đồng, bà Lại Thị Như H2 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 22.000.000 đồng và bà Trần Thị Thu D phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 4.000.000 đồng, đây là số tiền bà M, bà H2 và bà D vay của bị cáo H nhưng chưa trả cho bị cáo.
- + Đối với số tiền 86.959.612 đồng là tiền lãi vượt mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 mà bị cáo Huỳnh Thị H thu lợi bất chính của 06 người vay trên. Những người vay tiền này không yêu cầu bị cáo H trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bị cáo Huỳnh Thị H là người trên 60 tuổi, tại phiên tòa bị cáo H có yêu cầu xin miễn nộp tiền án phí, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo H được miễn nộp tiền án phí hình sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Thị H.
- - Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị H phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- + Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu FORME màu xanh bên trong có sim số 0978831905, số IMEI 1: 355055093832988, số IMEI 2: 35500509382996, đây là công cụ phạm tội.
- + Buộc bị cáo Huỳnh Thị H nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 55.000.000 đồng là tiền bị cáo H dùng để cho vay (người vay đã trả) và số tiền 5.652.055 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự 2015;
- + Buộc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị M phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 11.000.000 đồng (mười một triệu đồng);
- + Tiếp tục tạm giữ số tiền 540.000 đồng (năm trăm bốn mươi ngàn đồng) của bị cáo Huỳnh Thị H để đảm bảo thi hành án (Ủy nhiệm chi ngày 23-5-2024).
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Huỳnh Thị H được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Phạt tiền bị cáo Huỳnh Thị H 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng).
Buộc bà Lại Thị Như H2 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng);
Buộc bà Trần Thị Thu D phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 30-5-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 13-6-2024). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thiên Quan |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Dương Dăng An Phạm Xuân T1 | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thiên Q |
Bản án số 31/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 31/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Hà
