|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31/2024/HNGĐ-ST
Ngày 13/5/2024
V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Đức Minh
2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 08/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 42/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị H, sinh năm 1996; ĐKHKTT: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Hiện đang lao động tại Đài Loan.
Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng của Tòa án của chị H: Anh Đoàn Văn T, sinh năm 1990; ĐKHKTT: Thôn M, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Người đại diện theo ủy quyền quyền nuôi con của chị H: Bà Bùi Thị Y, sinh năm 1972; ĐKHKTT: Thôn A, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Lương Văn C, sinh năm 1990; ĐKHKTT: Thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phạm Thị H trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị H và anh Lương Văn C tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 02/06/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, mặc dù sống chung nhà nhưng không thể nói chuyện được với nhau. Mâu thuẫn trở nên trầm trọng từ khi chị H sinh con đầu lòng, do điều kiện kinh tế khó khăn nên chị bị gia đình chồng coi thường. Tháng 8/2016, chị H đã đưa con chung về nhà bố mẹ đẻ chị sống, vợ chồng cũng sống ly thân từ đó đến nay. Đến tháng 6/2018, chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, vợ chồng chấm dứt liên lạc, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Lương Văn C.
+ Về con chung: Chị và anh Lương Văn C có 01 con chung là Lương Thị Hà M, sinh ngày 23/12/2015. Con chung đang ở cùng chị và ông bà ngoại. Ly hôn, chị đề nghị Tòa án tiếp tục giao con chung cho chị nuôi dưỡng. Trong thời gian chị ở nước ngoài, chị ủy quyền bằng văn bản cho bà Bùi Thị Y chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thay chị cho đến khi chị trở về Việt Nam. Chị H không yêu cầu anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản và nợ chung: Chị H và anh Lương Văn C không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Lương Văn C trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Anh C và chị Phạm Thị H tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 02/06/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ đẻ anh. Vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nhưng vợ chồng không đồng lòng tìm giải pháp khắc phục. Khoảng tháng 6/2016, bố mẹ chị H đến đón chị H và con chung về nhà sinh sống. Anh C cũng không có biện pháp gì để vợ chồng hàn gắn tình cảm, cả hai đã sống ly thân từ đó đến nay. Đến năm 2019, chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Nay chị H có đơn xin ly hôn, anh C xét thấy không còn tình cảm vợ chồng, không có khả năng đoàn tụ nên anh đồng ý ly hôn chị H.
+ Về con chung: Anh C và chị H có 01 con chung là Lương Thị Hà M, sinh ngày 23/12/2015. Hiện nay con chung đang được ông bà ngoại chăm sóc do chị H đang đi lao động tại Đài Loan. Ly hôn, anh đồng ý chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và đồng ý việc chị H không yêu cầu anh cấp dưỡng cho con chung.
+ Về tài sản chung và nợ chung: Anh C và chị H không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy, bị đơn là anh Lương Văn C có hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Nguyên đơn là chị Phạm Thị H đang trong thời hạn lao động tại Đài Loan. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
Trong vụ án sơ thẩm này, Tòa án không phải tiến hành thu thập chứng cứ nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình không tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Qua lời khai của chị H, anh C thể hiện hôn nhân của anh chị không hạnh phúc, nhiều mâu thuẫn. Chị H và anh C đều có văn bản thể hiện quan điểm đồng ý ly hôn. Điều đó cho thấy cả hai không còn muốn duy trì quan hệ hôn nhân nữa. Hội đồng xét xử nhận định mâu thuẫn của anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị H ly hôn anh C là đúng quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Anh C và chị H có 01 chung là Lương Thị Hà M, sinh ngày 23/12/2015. Hiện cháu M đang ở cùng với vợ chồng bà Bùi Thị Y là bố mẹ đẻ của chị H. Xét thấy, từ khi chị H đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, cháu M được vợ chồng bà Y chăm sóc, nuôi dưỡng có cuộc sống ổn định và phát triển về thể chất, tinh thần bình thường. Chị H có nguyện vọng tiếp tục nuôi con chung và có văn bản ủy quyền quyền nuôi con cho bà Y trong thời gian chị H ở nước ngoài, bà Y đồng ý nhận ủy quyền của chị H. Anh C đồng ý chị H nuôi dưỡng con chung và cháu M có nguyện vọng được ở với mẹ và ông bà ngoại. Vì vậy, cần giao con chung cho chị H nuôi dưỡng có sự hỗ trợ của bà Y chăm sóc, nuôi dưỡng con cho đến khi chị H về Việt Nam.
Chị H không yêu cầu anh C có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung, anh C
đồng ý. Hội đồng xét xử thấy đây là sự tự nguyện của các các đương sự nên cần chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị H và anh C đều trình bày vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 477, Điều 238, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị H được ly hôn anh Lương Văn C.
2. Về nuôi con chung: Xử giao con chung là Lương Thị Hà M, sinh ngày 23/12/2015 cho chị Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Trong thời gian chị H ở nước ngoài, bà Bùi Thị Y là người thay chị H chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Lương Thị Hà M. Anh Lương Văn C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh C có quyền thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị H và anh C có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển 300.000 đồng chị Phạm Thị H nộp tại biên lai số 0000086 ngày 02/02/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình sang để thi hành án phí ly hôn sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt các đương sự. Anh Lương Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ; chị Phạm Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh, - Cục THA Dân sự tỉnh Thái Bình, - Đương sự, - UBND xã Đông Long, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ, HCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Chu Tuấn Vương |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Bùi Đức Minh |
Hoàng Thị Thu Hiền |
Chu Tuấn Vương |
Bản án số 31/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 31/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị H xin ly hôn Lương Văn C
